08/07 Tân Thủ tướng Thái Lan chủ trương thả nổi đồng baht

Thứ 6, 08/07/2011, 16:17

Trong một cuộc trả lời phỏng vấn hãng Reuters, bà Yingluck Shinawatra, người nhiều khả năng sẽ trở thành Thủ tướng Thái Lan, ngày 8/7 cho biết đồng baht của nước này nên được thả nổi tự do.Bà cũng hy vọng các chính sách và chương trình dân túy của mình có thể không làm tăng đáng kể tình trạng lạm phát ở Thái Lan.
Bà Yingluck nói thêm bà muốn thực hiện tất cả những cam kết đã hứa trong chiến dịch tranh cử song sẽ không cứ cố bám theo những chiếc sách không mang tính khả thi.
Bà Yingluck còn cho biết bà muốn chứng kiến sự phát triển của dịch vụ viễn thông thế hệ thứ ba vốn đã bị trì hoãn bấy lâu ở Thái Lan và nói chung, muốn thực hiện tư hữu hóa hơn nữa để quốc gia này có sức cạnh tranh lớn hơn.
Ngoài ra, bà Yingluck cho hay bà không biết khi nào anh trai bà, cựu Thủ tướng Thaksin Shinawatra đang sống lưu vong, có thể trở về Thái Lan./.
Theo Vietnam+

08/07 Ngân hàng Trung Quốc được coi như thẻ tín dụng?

Thứ 6, 08/07/2011, 22:52

Không còn nghi ngờ gì nữa, cho đến nay Trung Quốc luôn sử dụng các ngân hàng nước này như thẻ tín dụng để lấy tiền phung phí cho các dự án hạ tầng những năm gần đây.
Những nhà đầu tư rót tiền vào ngân hàng Trung Quốc từng mong mỏi: cũng giống như các công ty xếp hạng tín dụng trên khắp thế giới, họ hy vọng sẽ kiếm được lợi nhuận cao hơn thiệt hại từ khả năng vỡ nợ nếu có.
Tuy nhiên báo cáo trong 2 tuần qua cho thấy khối nợ thực tế của chính quyền các tỉnh tại Trung Quốc có thể lớn hơn rất nhiều lần so với con số công bố vả rủi ro từ những cá cược của nhà đầu tư nước ngoài vào ngân hàng Trung Quốc có thể lớn hơn. Điều gì xảy ra nếu bên dùng thẻ không trả nợ và các ngân hàng Trung Quốc ngập trong nợ xấu, lợi nhuận những năm tới không tăng nổi.
Nỗi sợ đã đẩy lên cao hơn khi hàng loạt nhà đầu tư đã giảm nắm giữ cổ phiếu ngân hàng Trung Quốc trong những ngày gần đây.
Tập đoàn đầu tư nhà nước Temasek của Singapore đã bán cổ phiếu tại các ngân hàng lớn của Trung Quốc để lấy 3,6 tỷ USD. Tổ chức an sinh Trung Quốc cũng đồng thời bán cổ phần tại các ngân hàng.
Dù hai quyết định trên có trùng hợp ngẫu nhiên hay không, không thể bỏ qua tín hiệu quan trọng. Một trong số những nhà đầu tư khôn ngoan nhất tại Trung Quốc đã quyết định đến lúc giảm bớt đầu tư vào các ngân hàng thuộc sở hữu của nhà nước Trung Quốc.
Thế nhưng cần nhớ sự thật rằng chính quyền các tỉnh Trung Quốc nợ nần chồng chất và các ngân hàng có thể khốn khổ với nợ không mới. Khi Cơ quan kiểm toán Trung Quốc công bố chính quyền các tỉnh tại Trung Quốc nợ khoảng 10.700 tỷ nhân dân tệ tương đương 1.654 tỷ USD, nó thực chất chỉ mang tính xác nhận cho tin đồn bao lâu nay trên thị trường.
Và trong tuần này, khi Moody khẳng định nợ thực tế có thể tăng thêm khoảng 3.500 tỷ nhân dân tệ nữa, thị trường càng có cơ sở khẳng định cho hoài nghi của mình.
Lo lắng về khả năng nợ chính phủ có thể gây tác động xấu lên ngân hàng Trung Quốc bắt đầu lớn dần vào cuối năm 2009 khi chính phủ Trung Quốc bắt đầu thu hẹp quy mô chương trình kích cầu đưa ra thời khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Các ngân hàng cung cấp nhiều tiền trong các khoản kích cầu đó, tổng giá trị các khoản vay mới năm 2009 lên tới 9.600 nhân dân tệ, gần gấp đôi con số của năm trước đó.
Một khi nhà đầu tư vượt qua được sự choáng váng khi kinh tế Trung Quốc vẫn tăng trưởng 2 con số trong khi phần còn lại của thế giới vẫn tăng trưởng trì trệ hoặc suy thoái, người ta nhận ra rằng một ngày nào đó, hóa đơn để mua được thành công cũng sẽ đến hạn thanh toán.
Tâm lý của nhà đầu tư được phản ánh trực tiếp trong giá cổ phiếu của ngân hàng Trung Quốc. Từ đầu năm 2010, cổ phiếu Ngân hàng Công thương Trung Quốc (ICBC), ngân hàng cho vay lớn nhất thế giới, đã hạ 19% trên thị trường Thượng Hải và 8% trên thị trường Hồng Kông, kém hơn rất nhiều so với mức tăng trưởng chung của thị trường. Câu chuyện này cũng xảy ra với các ngân hàng khác. Cổ phiếu Bank of China hạ 26% còn cổ phiếu China Merchants Bank hạ 23% trên thị trường Thượng Hải trong 1 năm rưỡi qua.
Mọi chuyện sẽ tồi tệ hơn?
Cổ phiếu các ngân hàng liệu có thể giảm điểm sâu hơn. Các chuyên gia phân tích không tin như vậy. Họ khẳng định thị trường đã hấp thụ đủ tin xấu, từ tin nợ nần cho đến tin phá sản và tái cấp vốn.
Ông Victor Wang, người phụ trách về các ngân hàng Trung Quốc tại tổ chức tài chsnh Macquaire ở Hồng Kông, nói: “Giá cổ phiếu đã phản ánh hết tâm lý bi quan cao độ.”
Chính phủ Trung Quốc cho đến nay đã đưa ra các biện pháp để đảm bảo các ngân hàng có đủ khả năng giải quyết được khó khăn trước mắt. Năm 2010, ngân hàng lớn nhất Trung Quốc đã huy động thêm 80 tỷ USD vốn thông qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu.
Ngoài ra, Ủy ban điều tiết ngành ngân hàng Trung Quốc đã liên tục siết các tiêu chuẩn vốn. Và khi khả năng vỡ nợ lớn hơn, giống như trường hợp công ty chuyên làm đường cao tốc tại tỉnh Vân Nam, chính phủ lập tức can thiệp, tiếp nhận nợ nần và cứu lỗ cho ngân hàng.
Ngọc Diệp
Theo FT

08/07 10 nền kinh tế tệ nhất thế giới

Kiểu đọc sáchThứ 6, 08/07/2011, 09:57

Tạp chí chuyên xếp hạng Forbes của Mỹ vừa công bố danh sách "Những nền kinh tế tồi tệ nhất thế giới năm 2011", trong đó dẫn đầu là quốc gia châu Phi Madagascar.
Đáng chú ý là, hai quốc gia sở hữu tài nguyên dầu lửa dồi dào là Venezuela và Iran cũng góp mặt trong danh sách này.

Forbes cho biết, họ đưa ra danh sách này trên cơ sở nghiên cứu 177 nền kinh tế trên thế giới trên các phương diện tăng trưởng GDP bình quân và tốc độ lạm phát trong 3 năm, GDP bình quân đầu người, cán cân vãng lai…

Dưới đây là 10 nền kinh tế mà Forbes cho là đang ở trong tình trạng tệ nhất trên thế giới:

1. Madagascar

GDP bình quân đầu người: 387 USD
Lạm phát: 8,5%

Giá gạo bán lẻ ở Madagascar trong vòng 2 năm qua đã tăng gấp đôi, trong khi nước này mất nhiều ngàn việc làm trong ngành dệt may sau cuộc đảo chính quân sự hồi năm 1999. Cuộc đảo chính này buộc nước Mỹ loại Madagascar ra khỏi Đạo luật cơ hội tăng trưởng châu Phi, vốn cho phép các nước trong đạo luật được hưởng quyền tiếp cận ưu đãi với thị trường Mỹ. Trong bối cảnh bất ổn chính trị vẫn tiếp diễn, Madagascar ít có cơ hội tăng vốn đầu tư nước ngoài trong năm nay.

2. Armenia


GDP bình quân đầu người: 2.959 USD
Lạm phát: 7%

Với GDP sụt giảm 15% trong năm 2009 và được dự báo còn tăng trưởng èo uột trong vài năm tới, nền kinh tế Armenia đang trong thời kỳ chật vật. GDP bình quân đầu người của nước này chưa bằng 1/3 so với nước láng giềng Thổ Nhĩ Kỳ. Mức lạm phát 7% càng khiến người dân Armenia nghèo đi.

3. Guinea


GDP bình quân đầu người: 440 USD
Lạm phát: 17%

Quốc gia Tây Phi này sở hữu một nửa trữ lượng bauxite của thế giới, nhưng không thể thu hút được vốn đầu tư từ bên ngoài. Giới quan sát cho rằng, cơ sở hạ tầng yếu kém và thái độ kém thân thiện của Chính phủ Guinea với các nhà đầu tư đã cản trở sự tăng trưởng kinh tế ở đây. Tuy nhiên, sau khi ông Alpha Conde trúng cử Tổng thống Guinea vào năm 2010, giới đầu tư đã bớt “sợ” nước này hơn. Abu Dhabi và tập đoàn khai mỏ BHP Billiton đang xem xét đầu tư 5 tỷ USD vào một dự án nhôm ở Guinea.

4. Ukraine


GDP bình quân đầu người: 3.483 USD
Lạm phát: 10%

Ukraine có diện tích lớn đất nông nghiệp màu mỡ và nguồn tài nguyên khoáng sản dồi dào, nên có “cơ” trở thành một nền kinh tế hàng đầu ở châu Âu. Tuy nhiên, GDP bình quân đầu người của nước này vẫn kém xa so với những nền kinh tế bị xem là yếu kém của lục địa già như Serbia và Bulgaria. Theo nhận định của Bộ Ngoại giao Mỹ, “luật pháp phức tạp, quản lý doanh nghiệp yếu kém, hiệu lực thực thi pháp luật hợp đồng không mạnh và đặc biệt là tham nhũng” là những lý do khiến kinh tế Ukraine trì trệ.

5. Jamaica


GDP bình quân đầu người: 5.473 USD
Lạm phát: 7%

Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, trong mấy năm gần đây, tỷ lệ nghèo đói ở Jamaica đã giảm khoảng một nửa xuống còn 10% và tỷ lệ người dân biết chữ đã tăng lên 88%. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã làm quốc đảo này khốn đốn, với GDP sụt giảm 4% trong hai năm qua và được dự báo sẽ chỉ tăng trưởng dưới 3% cho tới tận năm 2015. Lạm phát cao và thâm hụt cán cân vãng lai kéo dài khiến việc tăng thu nhập cho người dân bình thường ở Jamaica ngày càng khó.

6. Venezuela


GDP bình quân đầu người: 9.886 USD
Lạm phát: 32%

Dù đất nước được ưu đãi nguồn tài nguyên cực kỳ giàu có, người dân Venezuela vẫn nghèo. Ưu điểm duy nhất của nền kinh tế này là thặng dư vãng lai nhờ xuất khẩu dầu lửa. Lạm phát cao ngất ngưởng khiến tăng trưởng GDP trở thành vô nghĩa.

7. Kyrgyzstan


GDP bình quân đầu người: 943 USD
Lạm phát: 12,6%

Nước cộng hòa Trung Á này xếp 164 trong số 178 quốc gia thuộc Chỉ số tham nhũng do Tổ chức Minh bạch Quốc tế thực hiện, đồng thời gánh tỷ lệ thất nghiệp 11%. Có nhiều tài nguyên thiên nhiên, nhưng Kyrgyztan không thu hút được vốn đầu tư nước ngoài vào các dự án khai mỏ và luyện kim do môi trường kinh doanh quá kém hấp dẫn.

8. Swaziland


GDP bình quân đầu người: 3.109 USD
Lạm phát: 7,3%

Dân số tăng nhanh và tình trạng thiếu việc làm khiến tỷ lệ đói nghèo ở quốc gia châu Phi này đứng trên 60%, cho dù đất nông nghiệp ở đây dồi dào, lượng đường xuất khẩu lớn và ngành du lịch khá phát triển. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và sự tăng giá đồng nội tệ đã khiến ngành dệt may, nơi tạo việc làm cho 30.000 người dân Swaziland, điêu đứng.

9. Nicaragua


GDP bình quân đầu người: 1.197 USD
Lạm phát: 9%

Nicaragua là quốc gia nghèo thứ nhì ở Tây bán cầu, sau Haiti, với GDP bình quân đầu người chỉ bằng 1/3 so với nước láng giềng El Salvador. Tình trạng mất điện và thiếu nước như cơm bữa, cộng thêm giá năng lượng cao khiến người dân nước này đối mặt điều kiện sống khó khăn, đồng thời làm chùn chân giới đầu tư nước ngoài. Khoảng một nửa dân số Nicaragua sống dưới mức nghèo khổ, theo số liệu của Ngân hàng Thế giới.

10. Iran


GDP bình quân đầu người: 5.493 USD
Lạm phát: 15%

Theo số liệu của Cơ quan Thông tin năng lượng Mỹ (IEA), nước cộng hòa Hồi giáo này chiếm 10% trữ lượng dầu lửa đã được phát hiện của thế giới. Nhưng nền kinh tế Iran lại chỉ tăng trưởng với tốc độ bằng 1/3 mức bình quân toàn cầu, do sự kiểm soát chặt chẽ những ngành công nghiệp then chốt, các lệnh trừng phạt quốc tế và trình độ quản lý yếu kém. GDP bình quân đầu người của Iran chỉ nhỉnh hơn quốc gia điêu đứng vì chiến tranh Iraq, thay vì ngang tầm với các nước nhiều dầu lửa khác như Saudi Arabia hay Kuwait.

Theo An Huy
Vneconomy

08/07 Tỷ lệ thất nghiệp Mỹ tháng 6/2011 bất ngờ lên mức 9,2%

Thứ 6, 08/07/2011, 21:09

Hoạt động tuyển dụng của các công ty, không tính các cơ quan chính phủ, ở mức kém nhất tính từ tháng 5/2010.
Các công ty Mỹ tuyển dụng 18.000 lao động trong tháng 6/2011, mức thấp nhất trong 9 tháng. Tỷ lệ thất nghiệp tháng 6/2011 bất ngờ tăng, thị trường lao động tăng trưởng trì trệ.
Số liệu từ Bộ Lao động Mỹ cho thấy việc nước Mỹ chỉ có thêm 18 nghìn việc làm sau khi con số này ở mức 25 nghìn vào tháng trước đáng để thất vọng. Mức tăng trưởng của số lượng việc làm chỉ chưa bằng một nửa so với con số ước tính ban đầu.
Tỷ lệ thất nghiệp tháng 6/2011 bất ngờ lên mức 9,2%, mức cao nhất tính từ đầu năm 2011 đến nay. Hoạt động tuyển dụng của các công ty, không tính các cơ quan chính phủ, ở mức kém nhất tính từ tháng 5/2010.
Các chuyên gia tham gia khảo sát của Bloomberg dự đoán số lượng việc làm tăng từ 40 nghìn đến 175 nghìn.
Tỷ lệ thất nghiệp tại Mỹ tháng 6/2011 như vậy vẫn tăng ngay cả khi tỷ lệ tham gia vảo tìm kiếm việc làm giảm xuống chỉ còn 64,1%, mức thấp nhất từ tháng 3/1984.
Khảo sát khác của Bộ Lao động Mỹ thực hiện với các gia đình cho thấy số lượng việc làm giảm 445 nghìn còn số lượng việc làm bị mất lên tới 173 nghìn.
Số lượng việc làm trong lĩnh vực tư nhân tăng 57 nghìn trong tháng 6/2011 sau khi tăng 73 nghìn trong tháng trước đó. Các chuyên gia đã dự báo số lượng việc làm trong lĩnh vực tư nhân tăng 132 nghìn.
Ông Jenny Lin, chuyên gia kinh tế trưởng tại công ty ô tô Ford, nhận xét: “Thị trường lao động đang cải thiện chậm chạp. Kinh tế đương đầu với 2 cú sốc: tăng trưởng kinh tế yếu và hiệu ứng từ Nhật. Cả hai yếu tố này đang thay đổi và thị trường sẽ có thể cải thiện trong những tháng tới.”
Việc thị trường việc làm tăng trưởng kém, kinh tế phục hồi chậm đã khiến tỷ lệ người dân ủng hộ Tổng thống Obama giảm mạnh. Từ khi ông Obama nhậm chức, tỷ lệ thất nghiệp đã tăng thêm 1%, nước Mỹ mất 2,5 triệu việc làm.
Nhật Lệ
Theo Bloomberg

08/07 Warren Buffett bác bỏ khả năng kinh tế Mỹ suy thoái lần 2

Thứ 6, 08/07/2011, 21:45

Tỷ phú Buffett dự báo: “Việc làm sẽ trở lại khi hoạt động xây dựng trong lĩnh vực xây dựng nhà ở phát triển. Tỷ lệ thất nghiệp sẽ xuống 6% trong vài năm tới.”
Tỷ phú Warren Buffett cho biết ông vẫn tin tưởng vào khả năng kinh tế tiếp tục hồi phục và ông không tin vào khả năng kinh tế suy thoái lần 2.
Phát biểu với Bloomberg, ông nói: “Tôi không tin điều đó xảy ra. Kinh tế sẽ phục hồi nhanh đến thế nào, tôi không biết. Tôi chẳng nhìn thấy dấu hiệu nào của việc kinh tế suy thoái lần 2.”
Ông nói thêm: “Báo cáo mới nhất về thị trường việc làm cho thấy còn lâu chúng ta mới đến được nơi mà chúng ta cần đến. Kinh tế đang tăng trưởng trên khắp thế giới, thế nhưng không ấn tượng như chúng ta tưởng.”
Năm 2010, tập đoàn Berkshire Hathaway của tỷ phú Warren Buffett tuyển dụng 3.000 việc làm sau khi sa thải khoảng 20 nghìn người vào năm 2009.
Tháng 2/2011, tỷ phú Buffett cho biết công ty ông tuyển dụng khoảng 260 nghìn người trong lĩnh vực bảo hiểm, vận tải, sản xuất hàng tiêu dùng và năng lượng.
Tỷ phú Buffett nói: “Việc làm đến cùng với nhu cầu. Chúng ta đang chứng kiến nhu cầu đến từ nhiều lĩnh vực nhưng không phải lĩnh vực xây dựng.”
Tỷ phú Berkshire sở hữu công ty môi giới bất động sản, công ty sản xuất vật liệu xây dựng. Tỷ phú Buffett khẳng định sự phục hồi trên thị trường bất động sản sẽ đến trong khoảng thời gian 1 năm hoặc hơn thế nữa và ông đang chuẩn bị sẵn sàng để phát triển kinh doanh trong lĩnh vực này.
Tỷ phú Berkshire mở rộng công ty sản xuất gạch Acme Brick bằng vụ thâu tóm trị giá 50 triệu USD. Ngoài ra ông còn phát triển công ty sản xuất mái nhà Johns Manville bằng việc xây dựng nhà máy 55 triệu USD tại bang Ohio.
Tỷ phú Buffett dự báo: “Việc làm sẽ trở lại khi hoạt động xây dựng trong lĩnh vực xây dựng nhà ở phát triển. Tỷ lệ thất nghiệp sẽ xuống 6% trong vài năm tới.”
Nha Trang
Theo Bloomberg

08/07 Cuộc tranh luận về nợ nần ở Mỹ



Ngô Nhân Dụng

Hôm qua 7 tháng 7, Tổng Thống Barack Obama gặp các lãnh tụ thuộc hai đảng trong hai viện Quốc Hội Mỹ để tìm cách thỏa hiệp về việc nâng cao mức trần, cho phép chính phủ Mỹ được vay nợ trên con số tối đa hơn 14 ngàn tỷ Mỹ kim hiện nay.
 Ðây là lần đầu tiên ông Obama tham dự chính thức vào cuộc thương thuyết này. Trước đây Phó Tổng Thống Biden phụ trách nói chuyện với Quốc Hội, cho tới khi các đại biểu Cộng Hòa từ chối không thảo luận nữa.
Tại sao chính phủ Mỹ cần Quốc Hội cho phép vay thêm nợ ngay? Vì mức nợ hiện giờ đã “đụng trần” rồi, đi vay thêm là phạm luật. Nhưng nếu không được vay nợ thêm thì nước Mỹ có thể sẽ lâm vào cảnh “vỡ nợ.” Cũng như quý vị đang vay nợ, khi đáo hạn là phải trả tiền lãi và vốn. Một chính phủ với các món nợ khổng lồ, phải liên tiếp vay nợ các khoản mới để trả các món nợ cũ, chưa kể việc đi vay để chi tiêu vì ngân sách khiếm hụt (thu ít, chi nhiều). Ðến ngày 2 tháng 8 sắp tới này, nếu không được phép vay nợ thêm, chính phủ Mỹ sẽ không hoàn trả được nhiều món nợ đáo hạn, theo định nghĩa là vỡ nợ.
Nếu chính phủ Mỹ vỡ nợ, kinh tế toàn cầu sẽ bị ảnh hưởng; vì người ta vẫn coi việc đem tiền cho chính phủ Mỹ vay là cách đầu tư an toàn nhất; là chỗ trú ẩn cho đồng tiền cho qua những cơn bão tố tài chánh. Hiện nay cả thế giới đang là chủ nợ của nước Mỹ, trong đó Trung Quốc đang cầm những giấy nợ tổng cộng hàng ngàn tỷ Mỹ kim. Khi đi vay lẫn nhau hoặc vay các ngân hàng, các nước đều có thể dùng giấy nợ của chính phủ Mỹ làm vật thế chấp. Nếu các giấy nợ của Mỹ mà mất giá trị thì đồng đô la cũng sụp đổ, dòng tiền tệ trên thế giới sẽ bị ngưng đọng, hoặc tê liệt, một điều không ai dám tưởng tượng! Ðó là chưa kể, mỗi ngày chính phủ liên bang phải chi ra bốn tỷ đô la, không có tiền vô thêm là guồng máy nhà nước chết cứng! Cho nên, thế nào rồi chính quyền Obama và Quốc Hội Mỹ cũng phải tiến đến thỏa hiệp.
Nhưng việc nâng mức trần của tổng số nợ quốc gia không phải là một hiện tượng mới mẻ, tự dưng vừa mới xuất hiện. Trong 8 năm Tổng Thống Gorges W. Bush ngồi ở Tòa Bạch Ốc, Quốc Hội đã đồng ý nâng mức nợ quốc gia lên tất cả 7 lần! Thật ra, nếu ngân sách không thiếu hụt nặng như hiện nay, thì chỉ cần ảnh hưởng của lạm phát khiến đồng tiền mất giá không thôi, bình thường người ta vẫn phải nâng mức nợ tối đa lên. Nếu lạm phát khiến giá cả tăng 3% thì mức nợ tối đa cũng phải tăng 3% mới giữ đúng mức trần cũ, nếu không thì coi như cái trần nhà đã bị hạ thấp xuống 3%!
Vậy tại sao vấn đề có thể coi là bình thường này bỗng dưng trở nên trầm trọng như vậy? Vì các đại biểu Quốc Hội thuộc đảng Cộng Hòa muốn nhân dịp này yêu cầu chính phủ phải là sao cho việc quản lý tài chánh quốc gia cho được lành mạnh và vững chắc hơn. Cụ thể, họ muốn đạo luật cho phép nâng cái trần nợ lên cao phải kèm theo những điều kiện cắt bớt chi tiêu của guồng máy nhà nước liên bang, để giảm bớt số khiếm hụt ngân sách. Khi Tổng Thống Bush lên chấp chánh năm 2001, ngân sách nước Mỹ đang thặng dư; khi ông Obama lên thay thế, ngân sách thâm thủng nặng nề chưa từng thấy. Cả nước Mỹ lo lắng về cảnh khiếm hụt đó, ai cũng đồng ý phải quay lại tình trạng ngân sách cân bằng.
Nhưng có hai cách để cân bằng ngân sách. Một là giảm chi; hai là tăng thu. Bất đồng ý kiến giữa hai đảng trong Quốc Hội khiến việc thương thuyết bế tắc là do bên Cộng Hòa chăm chú nhắm vào việc giảm chi, trong khi phía Dân Chủ nhấn mạnh đến việc tăng thu.
Cả hai đảng đều nêu cao ngọn cờ “cân bằng ngân sách” nhưng muốn đi qua những con đường khác hẳn nhau. Số khiếm hụt ngân sách của chính phủ liên bang năm ngoái đã lên tới trên 200 ngàn tỷ Mỹ kim. Nhưng mối lo chính là ngân sách sẽ càng ngày càng khiếm hụt nặng nề hơn, khi gần 80 triệu người thuộc thế hệ “bùng nổ trẻ sơ sinh” (baby boomers) tới tuổi về hưu. Thế hệ này ra đời sau Ðại Chiến Thứ Hai, sẽ phải cấp hưu bổng xã hội cho họ và chữa bệnh cho họ. Quỹ hưu bổng xã hội và chi phí cho các chương trình y tế của chính phủ hiện chiếm gần 40% các món chi tiêu của nhà nước, các món chi tiêu đó sẽ tăng vọt lên. Cứ mỗi người già bước vào tuổi về hưu sẽ làm tốn cho ngân sách quốc gia trung bình 40,000 đô la một năm, tổng cộng các món Social Seccurity, Medicare và Medicaid (ở California gọi là Medical). Cứ như thế nhà nước sẽ hết tiền chi cho các chương trình dân sự khác!
Muốn tránh thảm họa đó, phải tăng số thu nhập của nhà nước, qua những khoản thuế lợi tức cá nhân, thuế doanh nghiệp, thuế hưu bổng xã hội và y tế, thuế đánh trên di sản. Chính quyền Obama đã đề nghị bãi bỏ những khoản trợ cấp cho các công ty dầu lửa và hơi đốt, trợ cấp dưới hình thức miễn thuế; và lấp các lỗ hổng giảm thuế cho các người giầu. Một số đại biểu Dân Chủ đề nghị tăng thuế ngay trên những người lợi tức trên 250,000 đô la một năm. Phía Cộng Hòa cực lực phản đối việc tăng số thu trên thuế má, và muốn chính phủ phải cắt những khoản chi tiêu đặc biệt là những chương trình xã hội, y tế và hưu bổng.
Muốn tiến đến cân bằng ngân sách thì guồng máy chính phủ liên bang phải chọn, hoặc tăng số thu thêm 64%, hoặc giảm số chi tiêu 40% không kể các số tiền chỉ dùng để trả lãi cho các món nợ của chính phủ.
Nếu chính phủ và Quốc Hội Mỹ trì hoãn, không tăng thu và giảm chi ngay bây giờ mà đợi 20 năm nữa mới bắt đầu, thì trong 20 năm nữa sẽ phải tăng thu thêm 77% hoặc giảm chi bớt 46%. Cắt bây giờ thì những người đang tuổi 65 đến 100 sẽ bị thiệt thòi, họ sẽ kêu trời lên mà phản đối. Nhưng nếu trì hoãn đến năm 2031 mới cắt thì thế hệ con em họ, bây giờ 45 đến 50 tuổi, sẽ bị cắt nặng nề hơn, và những người trẻ hơn sẽ bị tăng thuế nặng nề hơn!
Nếu đến lúc đó còn chần chừ mà đợi thêm 20 năm nữa thì lúc đó phải tăng thu, tức là tăng thuế 93% hoặc giảm chi, các dịch vụ mà guồng máy nhà nước cung cấp cho dân chúng sẽ bị cắt bớt khoảng 53%! Thế hệ con và cháu nội cháu ngoại của các cụ sẽ phải chịu đựng! Tức là càng trì hoãn các biện pháp cân bằng ngân sách thì các thế hệ sau càng phải chịu hậu quả nặng nề, hoặc tăng thuế, hoặc bị giảm bớt các dịch vụ y tế, xã hội! Có một bức tranh hài hước vẽ cảnh một bệnh nhân già nằm trên giường, bà bác sĩ đứng bên trấn an: “Cụ đừng lo. Các hóa đơn chữa bệnh mai mốt sẽ được các con và cháu cụ thanh toán!”
Hiện nay, hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ vẫn nhất định không ai chịu thua ai. Bên Cộng Hòa tuyên bố quyết tâm không tăng thuế bất cứ người nào, giầu cũng như nghèo, kể cả những khoản trợ cấp hiện cho các hãng dầu cũng không được bỏ. Bên Dân Chủ không muốn cắt bớt các chi phí xã hội. Ông Obama tất nhiên cùng quan điểm với các đại biểu Quốc Hội Dân Chủ; nhưng ông đứng ngoài cuộc tranh luận để chờ tới khi hai phe trong Quốc Hội bế tác, ông mới chính thức can dự, với cuộc họp tại Tòa Bạch Ốc ngày hôm qua. Với vai trò người đứng đầu Hành pháp, ông Obama có thể đề nghị một số cắt giảm trong ngân sách để thỏa mãn các đại biểu Cộng Hòa, và ông sẽ yêu cầu họ đáp lễ bằng một số khoản tăng thu mà bên Cộng Hòa vẫn chống lại. Cuộc thương thuyết sẽ kéo dài, nhưng thế nào cũng đến lúc phải đưa tới một thỏa hiệp trong hai tuần lễ, trước ngày 22 tháng 7 này. Vì sau khi hai bên đồng ý với nhau rồi sẽ cần thời gian để viết các điều được thỏa hiệp ra thành dự luật. Mà trong khi diễn tả các chi tiết trong dự luật thì người ta sẽ còn tranh cãi nhau từng chữ, từng câu.
Cuối năm ngoái, nước Mỹ đã trải qua một kinh nghiệm tương tự. Hai đảng trong quốc hội, Cộng Hòa kiểm soát Hạ Viện và Dân Chủ chiếm đa số ở Thượng Viện, hoàn toàn bất đồng ý kiến về việc triển hạn các đạo luật cắt thuế năm 2001 và 2003 của cựu Tổng Thống Bush. Dân Chủ muốn chỉ tiếp tục cắt thuế cho những người lợi tức dưới 250,000 đô la một năm thôi, Cộng Hòa muốn vẫn cắt tất cả. Tổng Thống Obama đã đợi tới phút chót mới tham dự, đồng ý triển hạn cho tất cả, nhưng chỉ trong vòng 2 năm thôi; đợi đến năm 2012 cho các cử tri Mỹ quyết định trong cuộc bỏ phiếu cả Hành pháp lẫn Quốc Hội. Bên Cộng Hòa thỏa mãn, vì những người lợi tức cao không phải trả thuế nhiều như trước thời Tổng Thống Bush; bên Dân Chủ cũng phải chấp nhận vì chính vị tổng thống cùng đảng đã thỏa hiệp.
Còn dân chúng Mỹ, họ nghĩ sao? Một cuộc nghiên cứu dư luận của Pew Research cho thấy có 42% dân Mỹ cho là nếu không đi tới thỏa hiệp tăng mức trần của các món nợ quốc gia thì đảng Cộng Hòa sẽ chịu trách nhiệm. Có 33% cho là lỗi ở ông tổng thống và đảng Dân Chủ.
Khi hỏi làm cách nào để cân bằng ngân sách, 59% dân Mỹ nghĩ nên pha trộn một phần tăng thuế, một phần cắt giảm chi tiêu, theo một cuộc nghiên cứu của đài ABC và nhật báo Washington Post; chỉ có 33% đồng ý là chỉ cần nhà nước cắt chi tiêu cũng đủ. Số người nghĩ chỉ cần tăng thuế thôi thì rất ít, chỉ có 3%.
Một cuộc nghiên cứu khác của đài CNN cho thấy 50% đồng ý với chiều hướng cắt giảm ngân sách của Tổng Thống Obama, và 42% ủng hộ đường lối của đảng Cộng Hòa. Nói chung trong cuộc tranh cãi hiện nay, dân Mỹ tỏ ý bất tín nhiệm các nhà chính trị cả hai đảng, Dân Chủ (67%) và Cộng Hòa (69%).
Cuối cùng, nếu hai bên không thể nào thỏa hiệp được để nâng mức trần nợ quốc gia lên đúng kỳ hạn ngày 2 tháng 8 thì Tổng Thống Barack Obama vẫn còn một món võ cất trong túi, không đến nỗi phải ngưng vay thêm nợ khiến chính phủ Mỹ phá sản. Ðó là một khoản trong Tu Chính Án số 14 trong Hiến Pháp Mỹ, viết rằng: “Giá trị công trái của Hiệp Chủng Quốc,... không thể nghi ngờ được.” (The validity of the public debt of the United States... shall not be questioned.” Ông Obama vốn là một giáo sư về Luật Hiến Pháp, chắc ông có thể giải thích rằng với tư cách người đứng đầu Hành pháp, ông cứ đi vay nợ để bảo đảm giá trị của các tờ giấy nợ đã phát hành. Ai ngăn cản sẽ bị coi là vi hiến! Nhưng chắc ông sẽ không phải dùng đến món võ đó.

08/07 欧州中銀、追加利上げ…3か月ぶり

物価上昇収まらず

 【フランクフルト=中沢謙介】欧州中央銀行(ECB)は7日の理事会で、ユーロ圏17か国に適用する政策金利を現在の年1・25%から年1・50%に引き上げた。利上げは4月以来、3か月ぶりだ。エネルギー価格の高止まりを背景に、物価上昇が続いているためだ。域内の金融市場はギリシャやポルトガルの財政不安の影響で一段と不安定になっており、ECBは難しい金融政策運営を迫られている。

域内市場 財政不安で動揺

 ECBのトリシェ総裁は同日の記者会見で「物価の上昇圧力を綿密に監視している」と、引き続きインフレを警戒する姿勢を示した。
 ユーロ圏の6月の消費者物価指数は前年同月比2・7%上昇し、ECBが金融政策運営の目標としている「2%未満」を7か月連続で上回った。ECBが4月、2年9か月ぶりの利上げに踏み切った後も高い物価上昇が続いていることから、再度の利上げに踏み切った。
 一方、域内の経済環境は4月以降、悪化している。ギリシャは2012年以降の財政資金が足りなくなり、欧州連合(EU)などに第2次支援を仰ぐことになった。5日には米格付け会社がポルトガル国債の格付けを4段階引き下げ、「投機的」扱いにした。ポルトガルもいずれ第2次支援が必要になると見ているためだ。
 スペインやイタリア国債の流通利回りも上昇(国債価格は下落)し、動揺が域内に広がっている。景気面でも、ユーロ圏の5月の小売り売上高が前月比1・1%減となるなど、一部にかげりも見える。
 ECBは、域内の国がデフォルト(債務不履行)の危機に直面する一方、景気も先行きの不確実性が高まる中での物価上昇という悩ましい状況に置かれている。
◇
 【フランクフルト=中沢謙介】英中央銀行のイングランド銀行は7日の金融政策委員会で、政策金利を過去最低の年0・5%のまま据え置いた。
 英国では5月の消費者物価指数が前年同月比4・5%上昇し、インフレ懸念が根強いものの、景気の力強さに欠けることから金融緩和を継続する。
(2011年7月8日  読売新聞)