Showing posts with label QE2. Show all posts
Showing posts with label QE2. Show all posts

20/06 10 lý do để tin kinh tế thế giới không “mò đáy”


▪  DƯƠNG LÂM
20/06/2011 16:24 (GMT+7)
 
Những số liệu kinh tế gần đây đã khiến nhà đầu tư hoảng loạn - Ảnh: Getty.
Nợ công châu Âu, kinh tế Trung Quốc có khả năng "hạ cánh cứng", kinh tế suy yếu cùng và tranh cãi nợ trần chưa dứt ở Mỹ là những nguyên nhân chính khiến các định chế tài chính quốc tế thời gian qua bi quan về triển vọng kinh tế thế giới.

Theo tờ Financial Post, những yếu tố trên cũng làm nhà đầu tư trên các thị trường hàng hóa hoảng sợ. Và bởi tất cả các vấn đề này không thể giải quyết được trong một tương lai gần, nên các thị trường tài chính toàn cầu sẽ vẫn tiếp tục biến động trong những ngày tới đây.

Tuy nhiên, chiến lược gia thị trường Joseph P. Quinlan thuộc Bank of America lại cho rằng, những nhân tố trên chưa trầm trọng tới mức làm trật đường ray quá trình phục hồi kinh tế toàn cầu hay đảo ngược kết quả hồi phục thị trường trong năm nay. Theo ông, nhà đầu tư không nên hoảng loạn, bởi 10 lý do sau:

1. Các tập đoàn đang có nhiều tiền mặt trong tay. Sau hai năm thu được các mức lợi nhuận kếch xù, các tập đoàn, doanh nghiệp lớn đang đưa số tiền này trở lại lưu thông bằng cách tăng chi tiêu vốn cũng như mở rộng hoạt động thuê mướn. Đồng thời, việc mua lại cổ phần và lãi cổ phần cao hơn đang trong tầm quan sát của họ.

2. Các số liệu về tỷ lệ thất nghiệp đang dẫn dắt sai, khiến mọi người rơi vào vòng luẩn quẩn. Mặc dù tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ vẫn ở mức cao 9,1% trong tháng 5, nhưng 95% số lao động có kỹ năng tại Mỹ hiện có việc làm. Do vậy, tỷ lệ thất nghiệp trong số lao động có bằng cấp đại học 4 năm hoặc cao hơn chỉ là 4,5%. Điều này có thể góp phần thúc đẩy chi tiêu dùng cá nhân ở Mỹ.

3. Hoạt động xuất khẩu của Mỹ vẫn mạnh. Tổng kim ngạch xuất khẩu của nền kinh tế lớn nhất thế giới trong tháng 3/2011 đạt mức cao kỷ lục, 172 tỷ USD. Với việc đồng USD suy yếu và các quốc gia khác đang tăng trưởng, xuất khẩu của Mỹ dự kiến sẽ vẫn duy trì mức tăng trưởng cao trong trung hạn.

4. Tình hình tài chính của Mỹ đang được cải thiện. Thị trường nhà đất yếu kém tiếp tục gây sức ép lên tình hình tài chính Liên bang, nhưng giai đoạn khó khăn nhất đã qua đi đối với nhiều người, với doanh số bán lẻ cao hơn dự tính.

5. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) không thay đổi lập trường. Chương trình nới lỏng định lượng lần hai (QE2) của Mỹ sẽ kết thúc vào cuối tháng 6 này, nhưng lập trường về chính sách tiền tệ ôn hòa của FED sẽ tiếp tục được duy trì trong thời gian còn lại của năm 2011.

6. Kinh tế Trung Quốc sẽ hạ cánh nhẹ nhàng. Với khoản dự trữ ngoại tệ lên tới khoảng 3.000 tỷ USD, Trung Quốc có đủ nguồn lực tài chính để giữ tỷ lệ tăng trưởng kinh tế ở mức 7 - 8% trong tương lai gần. Kinh tế Trung Quốc có thể tăng trưởng chậm lại, nhưng tốc độ vẫn nhanh hơn hầu hết các quốc gia trên thế giới trong năm nay.

7. Kinh tế yếu kém khiến giá cả năng lượng và thực phẩm hạ nhiệt phần nào, hỗ trợ kiềm chế rủi ro lạm phát và xoa dịu nỗi lo lắng của người tiêu dùng trên toàn cầu.

8. Khủng hoảng Khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) sẽ được kiểm soát. Quốc gia thành viên giàu nhất khu vực là Đức sẽ hỗ trợ cả ý chí chính trị lẫn tiền để ngăn các nước Eurozone như Hy Lạp, Bồ Đào Nha và Ireland rơi vào cảnh vỡ nợ.

9. Trần nợ công của Mỹ sẽ được nâng lên. Trong quá khứ, mức trần nợ công của Mỹ đã từng được nâng lên hơn 100 lần. Mỗi lần điều đó xảy ra, trọng tâm sẽ lại dịch chuyển sang việc giải quyết thâm hụt ngân sách liên bang của Mỹ.

10. Không phải tất cả các quốc gia đều phải thực hiện những biện pháp thắt lưng buộc bụng. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự tính, các nước đang phát triển hiện giữ khoản dự trữ ngoại tệ lên tới 7.500 tỷ USD.

04/06 PIMCO: Fed sẽ không tung ra QE3


Thứ 7, 04/06/2011, 09:05


Ông khẳng định quan chức các Ngân hàng Trung ương sẽ tiếp tục nói đến cụm từ “thêm một thời gian dài” trong các tuyên bố chính sách của mình.
Ông Bill Gross, chuyên gia quản lý quỹ đầu tư trái phiếu lớn nhất thế giới, khẳng định Fed sẽ không tung ra chương trình QE3 ngay cả khi thị trường việc làm Mỹ tăng trưởng thấp hơn dự báo của giới chuyên gia.
Trong bài phỏng vấn mới nhất, ông khẳng định quan chức các Ngân hàng Trung ương sẽ tiếp tục nói đến cụm từ “thêm một thời gian dài” trong các tuyên bố chính sách của mình.
Tháng 5/2011, các công ty tại Mỹ tuyển dụng số lượng lao động thấp hơn dự báo của giới chuyên gia, tỷ lệ thất nghiệp bất ngờ tăng lên mức 9,1%, như vậy chính sách mà các nhà hoạch định chính sách đưa ra không đủ để giúp thị trường lao động phục hồi.
Fed bắt đầu chương trình nới lỏng định lượng lần 2 (QE2) vào ngày 11/12 sau khi mua 1,7 nghìn tỷ USD trái phiếu chính phủ Mỹ trước đó. Fed tăng lượng tiền trong lưu thông để kích thích tăng trưởng và ngăn giảm phát. Chương trình QE2 của Fed dự kiến kết thúc vào cuối tháng 6/2011.
Ông nói: “Chúng tôi không nhìn thấy khả năng sẽ có một QE3. Hiện nay trong nội bộ Fed, người ta đã tranh cãi quá nhiều về chương trình đó. Xét đến tốc độ tăng trưởng và lạm phát ở thời điểm hiện tại, họ sẽ nói đến lãi suất liên bang ở mức thấp đã tồn tại trong thời gian dài.”
Fed đã giữ lãi suất cơ bản đồng USD ở mức từ 0% đến 0,25% suốt từ tháng 12/2008.
Ông cho biết quỹ của ông không mua loại trái phiếu mà Fed bán ra bởi lợi suất quá thấp một khi tính đến cả yếu tố lạm phát.
Ông chỉ ra việc quá phụ thuộc vào nợ đã đẩy kinh tế toàn cầu đến thời kỳ thay đổi căn bản mà ông gọi nó như trật tự mới. Ông dự báo thâm hụt ngân sách và quy định điều tiết chặt chẽ hơn sẽ tác động xấu đến tăng trưởng kinh tế Mỹ và khu vực đồng tiền chung châu Âu.
Đình Hảo

25/05 Kinh tế thế giới khó có thể tránh được suy thoái?

25/05/2011 | 15:26:00

Ảnh minh họa. (Nguồn: Internet)
Theo báo Bưu điện Tài chính ngày 24/5, khi đợt nới lỏng có định lượng lần hai (QE II) của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) sẽ kết thúc trong vòng 5 tuần tới và Hy Lạp đang có nguy cơ vỡ nợ, thế giới khó có thể chống chọi với sự suy giảm kinh tế.

Tuy nhiên, điều đó còn tùy thuộc vào việc điều gì sẽ xảy ra do nhu cầu của châu Á giảm sút, khi kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm lại, còn kinh tế Nhật Bản đang phải vật lộn với nhiều khó khăn.

Kinh tế Nhật Bản đã sụt giảm 0,9% trong quý 1 năm 2011 do động đất, sóng thần và cuộc khủng hoảng hạt nhân đang diễn ra. Chỉ số sức mua sơ bộ HSBC/Markit của Trung Quốc trong tháng 5 đã giảm xuống 51,1 điểm, từ mức 51,8 điểm của tháng 4.

Nhu cầu của Trung Quốc đối với nguyên liệu thô và các mặt hàng bán thành phẩm đang là một trong những cột trụ chính của kinh tế toàn cầu. Nhưng giờ đây, việc siết chặt chính sách tiền tệ có thể làm giảm nhu cầu này.

Tại Mỹ, chỉ số quốc gia FED Chicago, tổng hợp từ 85 chỉ số kinh tế, tháng 4 là - 0,45 điểm so với mức +0,32 điểm của tháng 3. Chỉ số này báo hiệu sự sụt giảm công nghiệp tại Mỹ, trong khi thị trường nhà đất tiếp tục suy yếu, đe dọa sự ổn định tài chính và chi tiêu tiêu dùng.

Cuối cùng, tại châu Âu, chỉ số PMI kết hợp khu vực dịch vụ và sức mua chế tạo đã giảm từ 57,8 điểm xuống còn 55,4 điểm. Điều đáng ngại hơn là chỉ số chế tạo cơ bản đã có mức giảm mạnh nhất kể từ khi Lehman Brothers sụp đổ, giảm tới 3,1%, xuống còn 54,8 điểm.

Ông Charlie Minter, giám đốc quản lý quỹ thuộc Comstock Partners, cho rằng tất cả những dấu hiệu trên cho thấy sự suy thoái kinh tế toàn cầu đã diễn ra. Tại Mỹ, sự suy thoái này xuất hiện chỉ vài tuần trước khi kết thúc QE2, một chương trình nhằm thúc đẩy sự phục hồi của kinh tế Mỹ.

Sự suy thoái này đã bắt đầu ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán, đang giảm trong những phiên giao dịch gần đây sau một đợt tăng giá kéo dài. Thị trường trái phiếu cũng vậy. Kể từ giữa tháng 4 lãi suất trái phiếu thời hạn 10 năm của Mỹ đã giảm từ hơn 12%, xuống còn 3,12%, cho thấy những nghi ngờ thực tế về triển vọng tăng trưởng tương lai.

Điều đáng lưu ý là lần này những khó khăn tại Khu vực đồng euro không chỉ xuất hiện tại các nước yếu kém về kinh tế ở phía nam, mà cả Đức cũng bị ảnh hưởng. Các thị trường toàn cầu đã phớt lờ những khó khăn của khu vực đồng euro trong hơn một năm.

Sự suy thoái kinh tế, ngoài việc ảnh hưởng đến nhu cầu của Trung Quốc, còn khiến các nhà đầu tư tập trung vào những triển vọng thực tế của Khu vực đồng euro. Liệu Đức và Pháp có muốn thanh toán khoản tiền cứu trợ Hy Lạp nếu các cơ sở chế tạo của họ bắt đầu bị thu hẹp hay không? Nhiều khả năng là không, trong bối cảnh ngoài Hy Lạp đang gặp khó khăn, Bỉ và Italy cũng đang bị Hãng xếp hạng tín dụng Fitch dọa đánh tụt hạng tín dụng.

Hiện nay, FED đang đứng trước một sự lựa chọn khó khăn: Liệu họ sẽ gia hạn và mở rộng QE để hỗ trợ nền kinh tế lại sa sút, hay khoanh tay ngồi im để chờ suy thoái?

Thanh Hoa (TTXVN/Vietnam+)

27/04 Bao giờ FED ngừng “nới lỏng định lượng”? (phần 1)

Thứ 4, 27/04/2011, 10:39

Cả vàng lẫn cổ phiếu đều tăng mạnh khi FED “nới lỏng định lượng”, khi nó kết thúc, chưa biết tình hình sẽ ra sao.

Mới hơn một năm trước, Chủ tịch FED Ben Bernanke ra điều trần trước Quốc hội để giải thích kế hoạch chấm dứt chính sách tiền tệ siêu lỏng mà cơ quan này đã sử dụng để chống lại suy thoái 2008-09.

Vào cái ngày 25/03 ấy vẫn chưa rõ bao giờ Bernanke sẽ điều trần vì Quốc hội phải nghỉ họp do tuyết rơi kỷ lục, nhưng đất đã bắt đầu rung chuyển dưới chân ông.

Đầu tiên là câu chuyện sửng sốt về việc số liệu về tài chính công của Hy Lạp không chính xác và cùng với cuộc khủng hoảng nợ ở Châu Âu khi ấy, nó đã làm niềm tin thị trường trên toàn thế giới chao đảo. Kinh tế Mỹ dù vào mùa xuân năm 2010 có vẻ rất hứa hẹn nhưng quá trình hồi phục đang chậm lại.

Dù cho mùa hè năm ngoái ngập trong những cuộc tranh luận công khai xem nên tăng lãi suất ngắn hạn hay nên bán một phần trong số 1.000 tỷ đôla tài sản FED đã mua để hỗ trợ nền kinh tế, và xem nên làm thế nào để giảm bớt số tiền mặt dư thừa trong hệ thống ngân hàng, nhưng hành động của FED lại đi theo hướng ngược lại.

Tháng 8 năm ngoái FED đột ngột chuyển hướng và tiếp tục nới lỏng chính sách, tới tháng 11, FED bắt đầu đợt mua tài sản lần thứ hai trị giá 600 tỷ đôla. Những người có thành kiến với FED và nghi ngờ tác dụng của hình thức can thiệp này đặt cho nó cái tên QE2.

Giậm chân tại chỗ?

QE2 sẽ kết thúc vào tháng 6 tới, có lẽ sau đó FED cũng sẽ không mua thêm tài sản nữa. Sau một năm đầy ắp những sự kiện, FED thấy mình lại quay trở về chỗ cũ.

Kinh tế có vẻ như đang tiến triển nhưng vẫn ì ạch như một chiếc xe trong cảnh tắc đường. Phe “diều hâu” trong ủy ban thị trường mở liên bang lo ngại lạm phát sẽ lên cao do giá hàng hóa cơ bản tăng và muốn tái thảo luận “chiến lược thoái lui”.

Raghuram Rajan, GS Trường Kinh doanh Booth thuộc ĐH Chicago và là cựu Kinh tế trưởng tại IMF, nghi ngờ QE2 và nói tất cả những gì FED có thể làm là chuẩn bị tăng dần lãi suất. “Vấn đề với chính sách tiền tệ là bạn bị trói buộc vào những gì mình đã nói và kỳ vọng mà bạn đã tạo ra,” ông nói.

Jan Hatzius, kinh tế trưởng về Hoa Kỳ tại Goldman Sachs tai New York, thận trọng hơn. “Tôi nghĩ họ nên kết thúc QE2 đúng hạn và sau đó đơn giản là ngồi yên,” ông nói. “Tôi vẫn nghĩ sắp tới lạm phát sẽ thấp.”

Bao giờ FED tiếp bước NHTW Châu Âu (ECB) và tăng lãi suất sẽ ảnh hưởng đến tất cả mọi thứ từ việc đồng đôla mạnh lên tới sự bền vững của phục hồi kinh tế Mỹ.

QE2 khiến gần như mọi thị trường tài sản để tăng mạnh nên sau khi QE2 kết thúc, chưa biết tình hình sẽ ra sao. Nửa còn lại của năm 2011 có lẽ sẽ chẳng mấy suôn sẻ khi FED vừa chuẩn bị “thoái lui”, vừa cố tránh để thị trường phát hiện “chuẩn bị” tức là sắp “thoái lui”.


Nếu biết vì sao tháng 11 năm ngoái FED tiến hành QE2 thì cũng hiểu vì sao ngay cả những thành viên “bồ câu” hơn trong FOMC hiện cũng không ủng hộ tiếp tục mua thêm tài sản.

“Khi số việc làm mới tăng chậm lại, người ta lo ngại về sự bền vững của quá trình phục hồi. Cùng lúc đó, lạm phát, dù đã ở mức rất thấp, nhưng vẫn tiếp tục giảm,” Chủ tịch Bernanke giải thích trong buổi điều trần trước Quốc hội tháng trước.

Rủi ro giảm phát không đáng kể nghĩa là chẳng có lý do gì để tiếp tục mua tài sản, mặc dù nếu một cú sốc nữa có chặn đà phục hồi và đẩy lạm phát giảm tiếp, đa số thành viên FOMC sẽ nghĩ lại.

Cú sốc lớn nhất gần đây là việc giá dầu vược mốc 100 đôla/thùng và hiện nay có lẽ điều này chỉ làm chậm lại chứ không chặn được đà phục hồi kinh tế. Giá hàng hóa cơ bản cao hơn sẽ không “tác động nhiều tới phục hồi kinh tế” trừ khi chúng tăng tiếp, Phó Chủ tịch FED Janet Yellen nói.

Lạm phát giảm tiếp là điều rất quan trọng. FED triển khai QE2 không phải vì thất nghiệp cao và lạm phát thấp dưới mức mục tiêu “2% hoặc thấp hơn một chút.” FED hành động vì thất nghiệp không cải thiện và lạm phát ngày càng xa mức mục tiêu, khiến nền kinh tế có nguy cơ trượt vào vòng xoáy giảm giá và biến Mỹ trở thành Nhật Bản thứ hai.

Lãi suất và lạm phát

Mọi chuyện nay đã khác. Thất nghiệp đã giảm gần 1% trong các tháng gần đây xuống 8,8% và tăng trưởng việc làm ở mức chấp nhận được. Lạm phát lõi, tức loại trừ giá năng lượng và thực phẩm, chạm đáy tháng 12 năm ngoái ở mức 0,7% so với cùng kỳ năm ngoái và kể từ đó đã tăng lên khoảng 1%.


Một loạt các chỉ số thứ cấp, từ số đơn bảo hiểm thất nghiệp, số đơn đặt hàng công nghiệp tới tăng trưởng tiêu dùng, cho thấy kinh tế đang tốt lên dù cho mấy tuần gần đây tình hình lại xấu đi.

“Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy tiêu dùng và đầu tư đã bắt đầu tăng trưởng bền vững,” ông Bernanke nói hồi tháng 3. “Nguy cơ chấm dứt phục hồi đã bị đẩy lui và nguy cơ giảm phát là không đáng kể.”

Tuy vậy, trọng tâm tranh luận tại FOMC trong những tháng tới sẽ là bao giờ “thoái lui” và “thoái lui” như thế nào. Một mặt, “thoái lui” bắt đầu ở thời điểm FED ngừng mua trái phiếu dài hạn, vì Bộ Tài chính sẽ tiếp tục phát hành thêm. Tỷ lệ nắm giữ của NHTW sẽ giảm xuống cùng với tầm ảnh hưởng của nó đối với lãi suất dài hạn.

Nhưng vấn đề thực sự lại nằm ở chuyện bao giờ tăng lãi suất. Hiện nay, lãi suất ngắn hạn mục tiêu là 0-0,25% nhưng FED cũng có khoảng 1.000 tỷ đôla tài sản dài hạn trên bảng cân đối kế toán, sau khi QE2 kết thúc, con số đó sẽ còn nhiều hơn.

FED quan niệm cứ mua thêm 200 tỷ đôla tài sản là tương đương với giảm lãi suất cơ bản đi 0,25%. Thế nên thực tế lãi suất hiện nay là khoảng -2%. Câu hỏi đặt ra là bao giờ họ tăng nó lên.

Khi đưa ra đánh giá này, công cụ cơ bản các quan chức FED sẽ sử dụng là mối quan hệ giữa lãi suất và số công suất dư thừa; và lạm phát cách mức mục tiêu bao xa.

Tất nhiên là còn tùy vào hoàn cảnh và quyết sách có thể được ban hành dưới nhiều dạng khác nhau, nhưng các ví dụ đơn giản mà FED sử dụng cho thấy sẽ cần thắt chặt chính sách khi thất nghiệp chạm mức 8% và lạm phát lõi chạm 1,5%, cũng có thể sớm hơn.

Các nhà hoạch định chính sách chỉ khác nhau ở chỗ không phải ai cũng có quan điểm giống nhau về thời điểm nền kinh tế chạm những mốc này.

Nhưng cũng có những lo ngại khác. Thứ nhất là giá hàng hóa cơ bản tăng có thể đẩy chỉ số CPI toàn phần (headline CPI), tức tính cả thực phẩm và năng lượng, vượt mức 2,7% (so với cùng kỳ năm trước).

Một số người thuộc phe “diều hâu” nghĩ FOMC nên hành động dựa ngay trên lạm phát toàn phần. Nhưng toàn bộ ủy ban luôn sẵn sàng hành động nếu kỳ vọng lạm phát tăng lên.

Minh Tuấn
Theo Economist