Showing posts with label George Soros. Show all posts
Showing posts with label George Soros. Show all posts

05/10 Đức có đủ sức lèo lái Eurozone vượt khủng hoảng?

05/10/2011 | 13:12:00


Ảnh chỉ có tính minh họa. (Nguồn: Internet)
Trong bối cảnh cuộc khủng hoảng nợ công tại khu vực sử dụng đồng euro (Eurozone) đang kéo thêm nhiều nước vào vòng xoáy, Thủ tướng Đức Angela Merkel cùng Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy đã "bày tỏ quyết tâm bảo vệ đồng euro và gánh vác những trách nhiệm đặc biệt ở châu Âu."

Đức hiện là trụ cột, đồng thời được coi là động lực thúc đẩy và giữ vai trò quyết định trong việc giải quyết vấn đề nợ công của Eurozone. Tuy nhiên, theo đánh giá nhà đầu tư có uy tín nhất thế giới George Soros, vai trò của nước Đức trong việc dẫn dắt các nền kinh tế châu Âu vượt qua khủng hoảng nợ công cho đến thời điểm này vẫn còn khá mờ nhạt.

17/08 "Hy Lạp, Bồ Đào Nha nên rời khỏi EU và Eurozone"



Ảnh minh họa. (Nguồn: Internet)
Ông trùm tài phiệt Mỹ George Soros cho rằng cả Hy Lạp lẫn Bồ Đào Nha nên rời khỏi Liên minh châu Âu (EU) và khu vực đồng euro do những khoản nợ khổng lồ của hai nước này.

Trong cuộc trả lời phỏng vấn được tạp chí Spiegel của Đức số ra ngày 14/8 đăng tải, ông Soros nhấn mạnh rằng "người ta đã giải quyết một cách rất sai lầm vấn đề của Hy Lạp."

Theo ông, cách tốt nhất hiện tại có lẽ là "một sự ra đi có trật tự," với Hy Lạp rời khỏi EU và đồng tiền chung euro.

Điều tương tự có lẽ cũng nên được áp dụng đối với Bồ Đào Nha, và khi đó EU cũng như đồng euro sẽ sống sót.

Ngoài ra, ông Soros còn đề xuất rằng giờ chính là thời điểm để các nước thành viên khu vực đồng euro chấp nhận việc ban hành trái phiếu EU.

Ông nói: "Dù bạn thích hay không, đồng euro vẫn đang tồn tại. Và để đồng euro vận hành một cách thích hợp, các nước sử dụng chung đồng tiền này phải có khả năng tái tài trợ một phần lớn khoản nợ của họ trong hoàn cảnh như vậy."

Đức hiện phản đối ý tưởng ban hành trái phiếu EU, nhưng ông Soros cho rằng Béclin, với tư cách là đối tác tài chính mạnh nhất của châu Âu, nên chịu trách nhiệm trong việc xác định các quy tắc để ban hành loại trái phiếu này.

Nhà đầu tư tỷ phú Soros, người đã kiếm được hơn 1 tỷ USD bằng cách đặt cược vào đồng bảng Anh vào năm 1992, cũng cho biết ông không hề có ý định đầu cơ để kiếm lời bằng cách đặt cược chống lại đồng tiền chung của châu Âu vào thời điểm hiện nay.

Ông nói: "Tôi chắc chắn sẽ không không đặt cược chống lại đồng euro. Bởi vì Trung Quốc có một lợi ích rất lớn khi có một đồng tiền để thay thế cho đồng USD và họ sẽ làm tất cả những gì có thể để giúp EU cứu lấy đồng euro."

Cả Hy Lạp và Bồ Đào Nha, cùng với Ireland, đã được EU và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cấp các khoản cứu trợ nhiều tỷ USD nhằm ngăn chặn những nước này rơi vào tình trạng vỡ nợ do những khoản nợ khổng lồ của họ.

Hiện cả Hy Lạp và Bồ Đào Nha cũng đang vật lộn để thực hiện những yêu cầu cải cách do khu vực đồng euro và IMF đề ra bằng cách cắt giảm chi tiêu và tăng thuế để đổi lấy các khoản viện trợ về tài chính./.
Ngự Bình/Rome (Vietnam+)

14/08 Three steps to resolving the eurozone crisis


August 14, 2011 7:40 pm
By George Soros

A comprehensive solution to the euro crisis must have three major components: reform and recapitalisation of the banking system; a eurobond regime; and an exit mechanism.
First, the banking system. The European Union’s Maastricht treaty was designed to deal only with imbalances in the public sector; but excesses in the banking sector have been far worse. The euro’s introduction led to housing booms in countries such as Spain and Ireland. Eurozone banksbecame among the world’s most over-leveraged, and they remain in need of protection from counterparty risks.

More

ON THIS STORY

The first step was taken by authorising the European financial stability facility to rescue banks. Now banks’ equity capital levels need to be greatly increased. If an agency is to guarantee banks’ solvency, it must oversee them too. A powerful European banking agency could end the incestuous relationship between banks and regulators, while interfering much less with nations’ sovereignty than dictating their fiscal policies.
Second, Europe needs eurobonds. The introduction of the euro was supposed to reinforce convergence; in fact it created divergences, with widely differing levels of indebtedness and competitiveness. If heavily indebted countries have to pay heavy risk premiums, their debt becomes unsustainable. That is now happening. The solution is obvious: deficit countries must be allowed to refinance their debt on the same terms as surplus countries.
This is best accomplished through eurobonds, which would be jointly guaranteed by all the member states. While the principle is clear, the details will require a lot of work. Which agency would be in charge of issuing, and what rules would it follow? Presumably the eurobonds would be under eurozone finance ministers’ control. The board would constitute the fiscal counterpart of the European Central Bank; it would also be the European counterpart of the International Monetary Fund.
Debate will therefore revolve around voting rights. The ECB operates on the principle of one vote per country; the IMF assigns rights according to capital contributions. Which should prevail? The former could give carte blanche to debtors to run up deficits; the latter might perpetuate a two-speed Europe. Compromise will be necessary.
Because the fate of Europe depends on Germany, and because eurobonds will put Germany’s credit standing at risk, any compromise must put Germany in the driver’s seat. Sadly, Germany has unsound ideas about macroeconomic policy, and it wants Europe to follow its example. But what works for Germany cannot work for the rest of Europe: no country can run a chronic trade surplus without others running deficits. Germany must agree to rules by which others can also abide.
These rules must provide for a gradual reduction in indebtedness. They must also allow countries with high unemployment, such as Spain, to run budget deficits. Rules involving targets for cyclically adjusted deficits can accomplish both goals. Importantly, they must remain open to review and improvement.
Bruegel, the Brussels-based think-tank, has proposed that eurobonds constitute 60 per cent of eurozone members’ outstanding external debt. But given the high risk premiums prevailing in Europe, this percentage is too low for a level playing field. In my view, new issues should be entirely in eurobonds, up to a limit set by the board. The higher the volume of eurobonds a country seeks to issue, the more severe the conditions the board would impose. The board should be able to impose its will, because denying the right to issue additional eurobonds ought to be a powerful deterrent.
This leads directly to the third unsolved problem: what happens if a country is unwilling or unable to keep within agreed conditions? Inability to issue eurobonds could then result in a disorderly default or devaluation. In the absence of an exit mechanism, this could be catastrophic. A deterrent that is too dangerous to invoke lacks credibility.
Greece constitutes a cautionary example, and much depends on how its crisis plays out. It might be possible to devise an orderly exit for a small country like Greece that would not be applicable to a large one like Italy. In the absence of an orderly exit, the regime would have to carry sanctions from which there is no escape – something like a European finance ministry that has political as well as financial legitimacy. That could emerge only from a profound rethinking of the euro that is so badly needed (particularly in Germany).
Financial markets might not offer the respite necessary to put the new arrangements in place. Under continued market pressure, the European Council might have to find a stopgap arrangement to avoid a calamity. It could authorise the ECB to lend to governments that cannot borrow until a eurobond regime is introduced. But only one thing is certain: these three problems must be resolved if the euro is to be a viable currency.
The writer is chairman of Soros Fund Management and of the Open Society Institute
Copyright The Financial Times Limited 2011. You may share using our article tools.
Please don't cut articles from FT.com and redistribute by email or post to the web


George Soros: Hết liều !

Thứ 4, 10/08/2011, 16:53
Người ta vẫn hay nói làm ăn thì phải liều. Nhưng không phải doanh nhân nào cũng dám chấp nhận rủi ro. Về khoản liều, không ai có thể qua mặt George Soros, ông chủ Công ty Quản lý Quỹ Soros Fund Management.
Người ta vẫn hay nói làm ăn thì phải liều. Nhưng không phải doanh nhân nào cũng dám chấp nhận rủi ro. Về khoản liều, không ai có thể qua mặt George Soros, ông chủ của Công ty Quản lý Quỹ Soros Fund Management, quản lý hàng loạt quỹ trong đó nổi bật nhất là quỹ Quantum. 
Ông đã từng đặt cược tới 10 tỉ USD rằng Ngân hàng Trung ương Anh sẽ phá giá đồng bảng Anh. Cuối cùng ông đã thắng và thu về 1 tỉ USD từ vụ đặt cược này. Thương vụ này cũng mang về cho ông danh hiệu “Người đánh sập Ngân hàng Trung ương Anh” và nhờ ông, nhà đầu tư cũng bắt đầu chú ý đến ngành quỹ đầu cơ.
Thế nhưng, sau 4 thập kỷ hoạt động trong ngành quỹ đầu cơ và thu được hàng tỉ USD lợi nhuận, Soros giờ sẽ không dùng tiền của người khác đặt cược. Vào cuối năm nay, Soros Fund Management sẽ không có khách hàng bên ngoài lần đầu tiên trong 42 năm qua. Vào ngày 26.7, Soros quyết định trả lại xấp xỉ 1 tỉ USD tiền của khách hàng và chuyển Công ty thành công ty gia đình để quản lý khoảng 25 tỉ USD cho Soros, gia đình và các quỹ hoạt động xã hội của ông.
Có 2 từ giải thích cho quyết định này: Dodd-Frank. Luật Dodd-Frank của Mỹ yêu cầu các quỹ đầu cơ phải đăng ký với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (SEC) và cung cấp các thông tin về khách hàng, nhân viên và tài sản. Bằng cách trả lại tiền của nhà đầu tư bên ngoài, Soros Fund Management đã có thể thoát khỏi vòng kim cô của luật này và vẫn giữ được tính bí mật cá nhân.
“Đèn hiệu” Soros
Cuộc đời và sự nghiệp của Soros kể từ khi mở quỹ đầu tiên vào năm 1969 với số tiền 4 triệu USD đến lúc “quy ẩn giang hồ” là một thước phim cho thấy ngành quỹ đầu cơ đã thay đổi và ông đã làm thay đổi ngành này như thế nào. Lúc đó, các quỹ đầu cơ chủ yếu phục vụ cho các cá nhân giàu có và không ai chú ý đến các nhà quản lý quỹ. Thậm chí không ai buồn theo dõi có bao nhiêu quỹ đầu cơ.
Thế nhưng, Soros đã làm thay đổi điều đó. Ông là một nhà đầu tư “vĩ mô”, tức người kiếm lời từ việc đặt cược vào các xu hướng kinh tế vĩ mô hơn là tập trung vào các cổ phiếu hoặc trái phiếu đơn lẻ. Cả thế giới là sòng bài của ông. Và sau vụ đặt cược vào đồng bảng Anh năm 1992, bất cứ khi nào có một loại tiền tệ bị giảm giá đều xuất hiện tin đồn rằng Soros đã đặt cược điều ngược lại.
Vào tháng 1.1998, Soros sang Hàn Quốc và gặp Tổng thống Kim Dae Jung. Sau đó, ông kết luận rằng đất nước này cần phải tái cấu trúc toàn bộ nền kinh tế. Nếu Hàn Quốc tiến hành được những thay đổi như củng cố hệ thống ngân hàng và cho phép nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần khống chế trong các công ty Hàn thì ông cam kết quỹ Quantum của ông sẽ đầu tư 1 tỉ USD vào đất nước này. Trong 3 ngày tiếp theo, chứng khoán Hàn Quốc đã tăng lên 7%. Có thể nói Soros được các nhà đầu tư xem như đèn hiệu và bất cứ động thái nào của ông cũng được dõi theo.
Nhờ vào sức hút từ các khoản siêu lợi nhuận mà Soros kiếm được, đến năm 2000, các quỹ đầu cơ đã hấp dẫn hơn. Các nhà quản lý quỹ như Julian Robertson, Louis Bacon và Paul Jones đều thu được lợi nhuận khổng lồ từ việc đặt cược vào cổ phiếu của các công ty Nhật, trái phiếu Mỹ và đồng tiền châu Âu. Một số đã xuất hiện trên các bìa tạp chí lớn và tiền đã được đổ vào ngành này một cách ồ ạt, thu hút các khách hàng lớn như các quỹ lương hưu, quỹ đầu tư quốc gia, quỹ hiến tặng và các tổ chức khác. Giá trị tài sản của các quỹ đầu cơ đã tăng mạnh, lên khoảng 1.900 tỉ USD vào giữa năm 2008.
Tuy nhiên, sau vụ ngân hàng Mỹ Lehman Brothers sụp đổ vào tháng 9.2008, các quỹ đầu cơ đã chứng kiến hơn 25% tài sản của họ bốc hơi khi các thị trường lao dốc và nhà đầu tư ồ ạt rút tiền khỏi quỹ. Mặc dù có tới 1.471 quỹ bị loại khỏi cuộc chơi, nhưng diễn biến tồi tệ này không kéo dài được lâu: Chưa đầy 3 năm sau đó, tài sản của ngành quỹ đầu cơ đã tăng trở lại con số 2.000 tỉ USD, qua cả mức đỉnh của năm 2008.
Cái không thể quay trở lại như cũ là niềm tin tuyệt đối vào sự khôn ngoan, sáng suốt của các nhà quản lý quỹ “ngôi sao”. Chính phủ Mỹ yêu cầu các quỹ đầu cơ phải minh bạch hóa thông tin (luật Dodd-Frank), còn các nhà quản lý quỹ ngày càng nhận được nhiều cái nhìn xoi mói hơn.
Các nhà đầu tư cũng để mắt hơn đến tình hình hoạt động của quỹ đầu cơ. Năm 2007, hằng quý các nhà quản lý quỹ đều viết thư để thảo luận các chủ đề đầu tư và báo cáo kết quả kinh doanh. Nay các quỹ trong đó có Paulson & Co. của John Paulson phải gửi cho khách hàng các báo cáo cập nhật hằng tuần chứ không phải hằng quý về tình hình của khoản đầu tư của họ. Thậm chí các nhà quản lý quỹ có uy tín cũng than phiền rằng khách hàng tiềm năng có thể bỏ ra 1 năm chỉ để đặt câu hỏi và làm khảo sát trước khi chấp nhận rót vốn vào quỹ.
Và nay trước quy định mới Dodd-Frank, để tránh sự giám sát của SEC, Soros đã quyết định chuyển công ty trở thành quỹ gia đình vào cuối năm nay.
Cảm giác đầu tiên về sự mạo hiểm
Soros sinh ra tại Budapest (Hungary) vào năm 1930. Tuổi thơ của ông gắn liền với những ngày kinh hoàng khi phát xít Đức tàn sát người Do Thái trong Chiến tranh Thế giới thứ 2. Thế nhưng, nó cũng cho ông cảm giác đầu tiên về sự mạo hiểm. Khi phát xít Đức tấn công thành phố vào năm 1944, cha của Soros đã sắp xếp làm giấy tờ giả cho gia đình và những người bạn để họ không mang thân phận là người Do Thái nhằm tránh cảnh thảm sát. Hầu hết những người được cha ông giúp đỡ đều sống sót trong cuộc chiến này.
Trong một bài tiểu luận đăng trên tạp chí New York Review of Books vào cuối tháng 6 vừa qua, ông viết: “Thay vì đầu hàng, chúng tôi đã chống lại số phận tàn khốc và chúng tôi đã sống sót. Không chỉ sống sót mà chúng tôi còn giúp được những người khác”. Ông cũng cho biết, trải nghiệm này đã cho ông niềm phấn khích lạ kỳ đối với rủi ro. “Điều này đã để lại một dấu ấn không phai trong tâm trí tôi, biến một thảm họa trở thành một cuộc phiêu lưu đầy phấn khích”.
Đặt chân đến New York lúc 26 tuổi, Soros vào làm chuyên viên giao dịch tại công ty môi giới ở Phố Wall là F.M. Mayer. Ông tính sẽ làm việc trong vòng 5 năm, khoảng thời gian đủ để ông tiết kiệm được 500.000 USD và sau đó qua Anh nghiên cứu ngành triết học. Thế nhưng, rốt cuộc ông đã ở lại Mỹ và đầu quân cho Arnhold & S. Bleichroeder Advisers. Tại đây, ông đã thành lập quỹ đầu tiên vào năm 1969, là tiền thân của Quantum. Ông bắt đầu thành lập công ty riêng vào năm 1973.
Vào cuối năm 1988, sau 19 năm đạt mức lợi nhuận hơn 30%, Soros đã thuê Stanley Druckenmiller từ quỹ tương hỗ Dreyfus để giám sát hoạt động giao dịch hằng ngày. Nhờ đó, ông có thể tập trung vào công tác xã hội. Mặc dù Druckenmiller là người thiết kế vụ giao dịch đặt cược 10 tỉ USD vào sự giảm giá của đồng bảng Anh, nhưng Soros là người thầy đào tạo nên Druckenmiller. Ông đã khuyến khích Druckenmiller đặt cược mạnh tay vào vụ giao dịch trên. Druckenmiller từng trả lời phỏng vấn hãng tin Bloomberg vào năm ngoái rằng Soros đã dạy ông một bài học quan trọng: “Khi bạn chắc chắn rằng mình đúng thì không có vụ đặt cược nào là quá lớn”.
Sau khi thua lỗ do bong bóng công nghệ xì hơi vào năm 2000, Soros đã cho nhiều người khác trong Công ty tham gia vào quy trình ra quyết định đầu tư và đồng thời chuyển một số tiền cho các nhà quản lý bên ngoài. 4 năm sau đó, ông đã đưa 2 con của mình lên giữ chức Phó Chủ tịch.
Tuy nhiên, Soros khó mà hoàn toàn tách khỏi hoạt động của Công ty. Theo một số nguồn tin nội bộ, ông không thể chịu được cảnh lỗ lã. Quỹ Quantum chỉ có một năm duy nhất làm ăn sa sút trong lịch sử 42 năm hoạt động. Thế nhưng, ông đã nhảy vào can thiệp. Năm 2007, khi con trai ông là Robert vẫn còn là Giám đốc Đầu tư của Quantum, cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn đang lan rộng. Soros đã nhảy vào nắm quyền kiểm soát quỹ trị giá 17 tỉ USD này. Quantum đã lãi 32% trong năm đó, phần lớn do chứng khoán Ấn Độ và Trung Quốc tăng giá. Năm tiếp theo, Quỹ đã đạt mức lợi nhuận 8% trong khi tính trung bình các quỹ đầu tư đã giảm khoảng 19%. Giữa năm 1973 (khi Soros bắt đầu thành lập công ty riêng) cho đến cuối năm 2010, Quantum đã tạo ra 35 tỉ USD lợi nhuận, theo một ước tính của LCH Investments.
Liều cả trong hoạt động xã hội
Nổi tiếng là một nhà đầu cơ với các phi vụ đầu cơ tiền tệ và thu về hàng tỉ USD lợi nhuận nhưng Soros cũng cho đi chừng ấy tiền. Ông đã mở quỹ hoạt động xã hội đầu tiên của mình là Open Society Fund vào năm 1979. Khi đó, ông đang quản lý khoảng 100 triệu USD và tài sản cá nhân của ông đã lên tới khoảng 25 triệu USD. Ông cho biết, trong 30 năm qua, ông đã cho đi hơn 8 tỉ USD để ủng hộ chế độ dân chủ, cải thiện giáo dục và chống đói nghèo trên khắp thế giới.
Soros đang tài trợ vốn cho mạng lưới các quỹ xã hội hoạt động tại 70 quốc gia từ Mỹ cho đến Nam Phi, Haiti. Tiền của ông được rót vào các dự án xã hội như chương trình cai nghiện ma túy hay phóng thích tù nhân sớm ở Baltimore. “Soros cực kỳ hào phóng và cũng là người can đảm khi dám chấp nhận rủi ro ngay cả trong lĩnh vực hoạt động xã hội,” Aaron Dorfman, nhà điều hành tại Ủy ban Quốc gia về Hoạt động Từ thiện (NCRP), một tổ chức độc lập giám sát các quỹ xã hội, cho biết. Trong khi đó, Caroline Preston, một tác giả tại tờ bán nguyệt san Chronicle of Philanthropy, nhận xét: “Soros dám lao vào giải quyết các vấn đề xã hội cực kỳ khó nuốt và sẵn sàng tài trợ cho các dự án cho dù cơ hội thành công của chúng là rất mong manh”.
Ban đầu Soros không muốn các tổ chức hoạt động xã hội của mình tồn tại mà không có ông vì lo ngại các tổ chức này có thể xa rời khỏi mục đích thành lập ban đầu. Tuy nhiên, sau đó, ông đã thay đổi ý định và quyết định rằng việc đóng cửa các tổ chức hoạt động xã hội sẽ là một “hành vi cực kỳ ích kỷ”. Đối với Soros, việc từ bỏ công tác xã hội dường như khó khăn hơn nhiều so với việc từ bỏ quản lý tiền của các nhà đầu tư bên ngoài.
Thực vậy, ngay cả trong quá trình thực hiện các thương vụ đầu cơ, đôi khi ông khó tách bạch việc kiếm lời với việc muốn làm một hoạt động xã hội lớn lao. Cuối năm 1998, Soros đăng một bài tiểu luận trên tờ Financial Times khuyên chính phủ Nga giảm giá đồng rúp từ 15-25%. Các nhà đầu tư lập tức xem đó như một dấu hiệu ông sẽ bán ra các chứng khoán Nga. Và họ cũng lao theo đặt cược vào sự giảm giá đồng rúp.
Giá trái phiếu bằng đồng rúp giảm mạnh và 4 ngày sau đó, Chính phủ Nga đã vỡ nợ. Kết quả là Soros mất hơn 1 tỉ USD. Đó là vì ông không hề bán ra mà vẫn tiếp tục nắm giữ trái phiếu và cổ phiếu Nga. Việc ông đầu tư vào Nga có mục đích cao hơn thế. “Ông cảm thấy rằng nếu mình là một cái đèn hiệu về đầu tư tại Nga thì những người khác sẽ theo chân và dòng vốn chảy vào sẽ làm thay đổi xã hội Nga. Ở Soros, luôn có một con người bác ái tồn tại song song với con người đầu cơ”, Robert Johnson, nguyên một nhà điều hành tại quỹ Soros, nhận định.
Theo Ngô Ngọc Châu
NCĐT /BusinessWeek

10/10 George Soros: Nước Mỹ cần tiền!

Mỹ nên tiếp tục kích thích kinh tế và chẳng nên quá lo lắng nếu nợ chính phủ có tăng trong ngắn hạn.


Người viết là ông George Soros, Chủ tịch quỹ đầu tư Soros Fund Management LLC.

Chính quyền Obama nỗ lực giữ kỷ luật tài khóa chẳng phải vì lý do tài chính mà vì những toan tính chính trị.

Mỹ không ở trong cảnh nợ nần chồng chất như các nước Châu Âu và phải chịu khoản chênh lệch lợi suất so với trái phiếu chính phủ Đức đắng miệng.

Lãi suất trái phiếu chính phủ Mỹ đang giảm và đã ở gần mức thấp kỷ lục. Thị trường tài chính dự báo sẽ có giảm phát chứ không phải lạm phát.

TT Barack Obama đang chịu nhiều sức ép chính trị. Người Mỹ rất quan ngại về con số nợ chính phủ. Phe Cộng hòa đã rất thành công trong việc gán khủng hoảng 2008 cùng đợt suy thoái và tỷ lệ thất nghiệp cao sau đó cho “sự bất tài của chính phủ”.

Nhưng khủng hoảng 2008 chủ yếu là do khu vực tư nhân. Các cơ quan giám sát ở Mỹ (và nhiều quốc gia khác) đáng bị chê trách vì đã không hoàn thành nhiệm vụ.

Nếu không có gói cứu trợ, hệ thống tài chính có lẽ vẫn còn tê liệt và khiến cuộc suy thoái sau đó kéo dài và nặng nề hơn. Tương tự như vậy, gói kích thích tài khóa là một biện pháp cần thiết.

Vì áp lực thời gian nên không thể tránh khỏi chuyện phần lớn gói kích thích được dùng để duy trì tiêu dùng thay vì sửa chữa các mất cân đối vĩ mô.

Chính quyền Obama chỉ sai ở cái cách họ cứu trợ hệ thống ngân hàng: họ giúp ngân hàng thoát hiểm bằng cách mua lại các khoản nợ xấu và cung cấp tín dụng giá rẻ.

Ngay điều này cũng là vì các toan tính chính trị: bơm vốn cổ phần vào ngân hàng đáng lẽ đã hiệu quả hơn nhiều nhưng TT sợ bị quy kết là đang “quốc hữu hóa”.

Quyết định ấy nay lại có tác dụng ngược và gây nên những hậu quả chính trị nghiêm trọng. Dân chúng thấy lãi suất vay tiền qua thẻ tín dụng tăng từ 8% lên gần 30% trong khi ngân hàng kiếm lời “khủng” rồi mạnh tay chi thưởng đậm.

Phong trào Tea Party đã khai thác sự bất bình này và TT Obama hiện đang phải ở thế thủ.

Phe Cộng hòa lên chiến dịch chống lại bất kỳ một gói kích thích nào và chính quyền chỉ biết nói đãi bôi về “kỷ luật tài khóa” dù biết rằng có thể giảm thâm hụt ngay là quá sớm.

Tôi tin rằng rất nên tiếp tục kích thích kinh tế. Phải thừa nhận rằng không thể duy trì tiêu dùng bằng cách tăng nợ quốc gia mãi.

Cần phải điều chỉnh sự mất cân đối giữa tiêu dùng và đầu tư. Nhưng cắt giảm chi tiêu công đúng lúc thất nghiệp nhiều như hiện nay là đã lờ đi những bài học trong lịch sử.

Rõ ràng phải phân biệt giữa đầu tư và tiêu dùng hiện tại, tăng đầu tư trong khi giảm tiêu dùng.

Nhưng điều này khó khả thi về mặt chính trị. Đa phần người Mỹ tin rằng chính phủ không biết đầu tư ra sao để cải thiện các nguồn lực hữu hình và vô hình của đất nước.

Một lần nữa, niềm tin ấy không phải không có cơ sở: một phần tư thế kỷ nói xấu chính phủ rút cục đã khiến chính phủ xấu đi thật.

Nhưng cho rằng chắc chắn kích thích kinh tế quá lãng phí lại hiển nhiên sai: Chương trình Kinh tế - Xã hội thời Roosevelt đã tạo nên Chính quyền thung lũng Tennesse (Tennessee Valley Authority), cầu Triborough ở New York và nhiều công trình công cộng khác vẫn còn được sử dụng cho đến ngày nay.

Hơn nữa, khu vực tư nhân đơn giản không sử dụng các nguồn lực sẵn có. Thực tế TT Obama rất thân thiện với doanh nghiệp, và doanh nghiệp cũng đang làm ăn có lãi. Nhưng thay vì đầu tư, họ lại đang củng cố khả năng thanh khoản.

Có lẽ chiến thắng của phe Cộng hòa sẽ làm họ tự tin hơn nhưng cùng lúc đó, đầu tư và việc làm lại cần các gói kích thích tài khóa (kích thích bằng chính sách tiền tệ khiến doanh nghiệp quan tâm tới chuyện nuốt chửng lẫn nhau hơn là thuê mướn nhân công).

Chính phủ nợ thế nào thì gọi là nhiều là câu hỏi vẫn còn bỏ ngỏ vì chấp nhận nợ công được bao nhiêu phụ thuộc nhiều vào nhận thức của xã hội.

Phần bù rủi ro trong lãi suất là một biến cực kỳ quan trọng: một khi nó tăng, tỷ lệ thâm hụt hiện nay sẽ trở nên thiếu bền vững. Nhưng nợ nhiều chưa chắc đã đồng nghĩa với thảm họa.

Lấy ví dụ như Nhật Bản, tỷ lệ nợ trên GDP đã gần 200%. Dù vậy lợi suất trái phiếu 10 năm chỉ hơn 1%. Lý do là khu vực tư nhân không thích đầu tư ra nước ngoài và thà mua trái phiếu chính phủ 10 năm lãi suất 1% còn hơn giữ tiền với lãi suất 0%.

Chừng nào ngân hàng Mỹ còn có thể vay mượn với lãi suất gần 0% rồi mua trái phiếu chính phủ mà chẳng cần dự trữ bắt buộc, USD không mất giá so với Nhân dân tệ, thì lãi suất trái phiếu chính phủ Mỹ sẽ còn đi theo vết xe đổ của Nhật.

Điều đó không có nghĩa Mỹ nên duy trì tỷ lệ chiết khấu gần 0 và tăng vay nợ mãi mãi. Tốt nhất nên giảm sự mất cân đối càng nhanh càng tốt trong khi giảm tối đa việc vay mượn.

Có nhiều cách để thực hiện được điều đó, nhưng mục tiêu của chính quyền Obama giảm một nửa thâm hụt ngân sách trước năm 2013 trong khi nền kinh tế vẫn hoạt động dưới xa mức tiềm năng thì không.

Đầu tư vào giáo dục và cơ sở hạ tầng sẽ có nhiều ý nghĩa hơn. Tương tự là sắp xếp để USD mất giá dần so với NDT.

Không phải những tranh cãi về kinh tế học mà chính nhận thức sai lầm về thâm hụt ngân sách mới đang bị lợi dụng vì mục đích đảng phái và ý thức hệ.

Minh Tuấn
Theo Economist

ソロス流の社会的責任投資とは  編集委員 梶原誠

2010/9/16 7:02

梶原誠(かじわら・まこと) 88年日本経済新聞社入社。ソウル、ニューヨーク、証券部編集委員、論説委員を経て09年から米州総局(ニューヨーク)編集委員。興味分野は「市場に映るものすべて」。

 著名投資家のジョージ・ソロス氏は、世界的な慈善家としても知られる。特徴は2つの顔を完全に使い分けること。投資家として冷徹に運用益を上げ、もうけを社会貢献に回してきた。


関連記事 ・7月5日日経夕刊7面「社会問題ビジネスで解決?(ニッキィの大疑問)」
・7月14日毎日新聞朝刊「ユニクロ、グラミン銀行と合弁会社」
・9月14日日経朝刊15面「市場立国・米国の賭け(一目均衡)」


 それだけに気になっていたのは、同氏が今年、SKSマイクロファイナンスというインド企業の株式を買ったニュースだ。SKSはインドで貧困層の女性に融資する銀行。これまでの原則を破り、インドの貧困解消を投資で支援したいのでは、という疑問がわく。

 先週ソロス氏に尋ねたら、こんな反応だった。「投資家として運用益を極大化したいだけ。ビジネスモデルが気に入った。株価はまだ魅力的(割安)だ」。

 あっさり否定されたわけだが、この答えには「社会的責任投資」の本質が隠れている。社会に貢献する企業は長い目で見れば成長し、株を買った投資家の利益にもなるという考え方だ。

 社会的責任投資の対象は、環境に配慮するなど社会との共生を目指す企業。だが、そのための費用がかかるため、手っ取り早く収益を上げて欲しい投資家には根付きにくかった。投資で社会に貢献したいという強い意志あっての、慈善色の濃い手法ともいえた。

 しかし、経営者や投資家が長期的な視点に関心を持ち始めたことで、風潮は変わってきた。例えば今、「ソーシャルビジネス」が頻繁に報じられている。非営利組織(NPO)が主役だった貧困や教育などの社会問題を、企業が営利目的で手掛けるようになった。

 7月には「ユニクロ」を展開するファーストリテイリングが話題をさらった。貧困層への融資で知られるグラミン銀行と組み、最貧国のひとつであるバングラデシュで衣料を製造・販売する。

 雇用創出や生活水準の向上という社会貢献はもちろんだが、目標は収益でもある。「(人口約1億6000万人の)バングラデシュは将来、巨大な市場になる。将来のユニクロファンを作る」と柳井正会長兼社長の視野は長い。


リーマン・ショックで企業と社会との「共生」に目を向け始めた投資家


 短期的な視野に疑問符がついたきっかけは、2008年のリーマン・ショックだった。ウォール街の金融機関は目先の収益にこだわる投資家の求めに応じ、短期的な市場シェア競争に明け暮れた。共振が限界に達した結果が、歴史的な不況の引き金を引いたリーマン・ブラザーズの破綻だ。生活を傷つけられた人々は怒り、ウォール街は今も信頼の低下に悩んでいる。

 危機と同時に企業の持続可能性(サステナビリティー)が話題になったのは偶然ではない。手間をかけてでも社会と共存しないと企業が永続できないことに、経営者も投資家も気づきはじめた。

 ソロス氏がほかの投資家と違うのは、社会的責任投資などという特別な言葉を使わないところ。ソーシャルビジネスが利益を生むのなら、確かに慈善活動ではなく将来の成長を見込んだ普通の投資だ。企業は幅広い投資家層のリスクマネーに支えられ、社会問題の解決も後押しするだろう。

 リーマン・ショックから2年が過ぎた。市場経済の暗部は山ほど表面化したが、衝撃が生んだ進化の芽も間違いなくある。

source: nikkei

Hedge Fund Managers Set Up for Next Acts

By JULIE CRESWELL
Published: September 16, 2010

James J. Pallotta, a legend of the hedge fund industry, is calling a do-over.

After shutting his giant fund following a humbling loss, Mr. Pallotta, the money manager who is an owner of the Boston Celtics, is doing what hedge fund types do in tough times: he is opening a new fund.

There have been plenty of mulligans in the rarefied realm of hedge funds these days. Mr. Pallotta, 52, is one of a number of prominent money managers who are trying to start afresh after the tumult of the financial crisis.

By closing one fund and opening another, managers can, in a stroke, wipe clean their investment records and start collecting fees from new investors.

Who would entrust their money to a hedge fund washout? Plenty of people, it turns out. Before the financial collapse, Mr. Pallotta had a record of handsome returns. His new fund, called Raptor Evolution (his old one was Raptor Global), will in all likelihood have no trouble drumming up investors, analysts said.

“Will it be easy for him to raise money? Yes,” said Tim Berry, a head of hedge fund investments at Private Advisors, a Richmond, Va., firm that advises large institutions on their investments. “He has a long track record of success.”

Others hoping for a comeback include Gabe Nechamkin, a former trader for George Soros, and John W. Meriwether, whose Long-Term Capital Management failed spectacularly in 1998. Mr. Nechamkin is on his second fund, Mr. Meriwether his third.

Not everyone will get a second or third chance. Hedge funds, whose outsize returns — and paydays — defined an era of Wall Street riches, are in the midst of a painful shakeout.

Over the last two and a half years, investors have withdrawn nearly $320 billion from these private investment pools, leaving the industry’s combined assets at $1.5 trillion, according to data from BarclayHedge.

Small funds have been hit hardest. Since their number worldwide peaked at 12,000 in 2007, it has fallen to about 8,400, according to research from the executive search firm Heidrick & Struggles.

The industry as a whole struggled in 2008 and 2009, and this year is not looking much better. For the year through the end of August, the average hedge fund was down 1.4 percent, according to Lipper, a unit of Thomson Reuters. Investors are increasingly asking themselves whether they would be better off putting their money in a low-cost index fund. The Standard & Poor’s 500-stock index is up 0.5 percent.

Given that showing, nearly half of the hedge funds included in the Hedge Fund Research Index have been running below the levels they need to attain to earn their rich performance fees for the last three years. (Hedge funds typically charge a management fee of 1 to 2 percent and take a 20 percent cut of profits provided they pass performance milestones known as high water marks.)

“It’s a pretty crowded field with very high fees,” said Todd Buchholz, a former managing director at Tiger Management, the hedge fund firm run by Julian H. Robertson Jr.

“I don’t see that this is the death or the last gasp of hedge funds, but there is certainly a shaking out going on here,” said Mr. Buchholz, who now oversees a real estate hedge fund called Two Oceans. Some managers are closing underperforming or money-losing funds and trying to persuade their old investors, plus some new ones, to provide new capital.

These funds face two challenges, however. Many have to agree to make up past losses before earning a performance fee from their previous investors — if those investors return at all.

Most also have to indicate to investors that they have learned their lessons and that the investment strategies of their new funds — at least on the surface — will address past problems.

Jeffrey Gendell’s firm, Tontine Capital Partners, averaged returns of 38 percent from 1997 to 2007. Tontine Capital oversaw $7 billion before it closed two funds that had lost more than two-thirds of their value in 2008; a few months later, in 2009, Mr. Gendell opened a new hedge fund.

The new fund, Mr. Gendell said in a letter to investors, would invest only in easy-to-trade securities and would not use leverage, or borrowed money, to improve its returns. Mr. Gendell vowed he would not collect performance fees until investors had recouped their previous losses. A spokesman said Mr. Gendell declined to comment.

It is unclear whether Mr. Nechamkin and Mr. Meriwether, neither of whom returned a call, are using new and improved strategies or offering to make legacy investors whole before collecting new performance fees.

The looming question for these and other managers is whether investors are willing to forgive and forget.

Hedge fund managers and their employees are reluctant to discuss their attempted comebacks. One individual who worked at a fund that closed and is now trying to raise money for a new fund said many in the industry were trying to play up their past success, rather than their recent losses.

“It creates a weird dynamic,” this person said, who asked not to be named so as not to jeopardize the new fund. “You want to be part of the good, but not part of the bad.”

For Mr. Pallotta, whose Raptor funds had more than $12 billion in assets at their height, there were a lot of good years.

Mr. Pallotta — who recently built a 27,000-square-foot home in one of Boston’s wealthiest enclaves — posted average annual returns of 19.2 percent in the 15 years he worked for the billionaire Paul Tudor Jones and five years before that at Essex Investment Management.

Raptor was spun out of Tudor Investments in late 2008, after the fund lost 20 percent. Turning in a flat performance in the first few months of 2009, Mr. Pallotta shut the fund n that June, telling investors in a letter that he had doubts about “the sustainability of certain aspects of the industry’s structure and short-term focus.”

A spokesman said Mr. Pallotta declined to comment.

With his new fund, Mr. Pallotta is going back to Square 1, recreating the conditions that he had at the start of his career, said a person with knowledge of the fund, who declined to be named because of continuing efforts to raise capital.

Using a small team and focusing on a small number of securities, Mr. Pallotta is not looking to become a megafund for now, this person said. So far, Mr. Pallotta has won back some old investors, as well as new ones. But he will not earn a performance fee on the new fund until previous investors recoup their losses.

As Mr. Berry put it: “If he’s passionate about investing and doesn’t mind working with a smaller capital base for a while and wants to prove to investors he’s still got it, then he’ll do fine.”


Related Searches


Hedge Funds
Subprime Mortgage Crisis
Executives and Management
Prices (Fares, Fees and Rates)

24/06/2010 Tỷ phú Soros: 'Đức có thể phá hủy eurozone'


Thứ năm, 24/6/2010, 11:43 GMT+7

Tỷ phú lừng danh George Soros đưa ra cảnh báo chính sách kinh tế Đức sẽ nhấn chìm các nền kinh tế trong khu vực đồng tiền chung châu Âu và làm tăng rủi ro sụp đổ đồng euro.

Soros cho rằng chính quyền Berlin cần phải chuyển đổi chính sách kinh tế từ những biện pháp hà khắc sang chương trình thúc đẩy tăng trưởng. Ông chỉ trích biện pháp giảm thâm hụt mạnh tay của châu Âu, đặc biệt là Đức – nền kinh tế lớn nhất châu Âu sẽ gây ra hiểm họa giảm phát và đẩy kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái lần 2.

Trong tháng qua, Thủ tướng Đức Angella Merkel đã công bố kế hoạch giảm thâm hụt ngân sách khổng lồ 80 tỷ euro (66 tỷ bảng Anh). AFP dẫn nhận xét của Soros rằng: "Thật không may là Đức không nhận ra họ đang làm điều gì".

The Guardian dẫn quan điểm của Soros trong bài diễn văn tại trường Đại học Humboldt tại Berlin rằng chính sách của Đức đang trở thành mối đe dọa cho châu Âu, nó có thể phá hủy dự án châu Âu. "Ngay lúc này, Đức đang kéo các nước láng giềng vào giảm phát, kéo dài giai đoạn tăng trưởng trì trệ. Không chỉ thế, những chính sách đó còn có thể dẫn tới chủ nghĩa dân tộc, bất ổn xã hội và bài ngoại. Dân chủ tự nó có thể tạo ra rủi ro", ông nói thêm.
Theo ông , với quan điểm bảo thủ về chính sách chu kỳ, Đức đang gây nguy hiểm cho Liên minh châu Âu. "Tôi thừa nhận đây là lời buộc tội khá nặng nề, nhưng tôi cho rằng nó phù hợp trong lúc này. Về cơ bản, thái độ của Đức đối với Liên minh châu Âu là sai", ông nói.
Không chỉ riêng Nam Âu, Anh cũng đang chới với với tình hình thâm hụt ngân sách quốc gia. Tuy nhiên điểm khác biệt giữa Anh với các nước Nam Âu là Anh có thể tự xoay sở để thoát thâm hụt bằng cách điều chỉnh chính sách tiền tệ yếu và giảm những rủi ro từ chính sách thắt chặt tài chính.

Văn phòng Quản lý Nợ (DMO) của Anh đang lên kế hoạch tăng vốn khoảng 4 tỷ bảng nhờ vào nguồn tài trợ từ các ngân hàng lớn như Barclays, Nomura, Morgan Stanley and Royal Bank of Canada. Tuy nhiên nhu cầu tăng vốn thực tế thì lớn hơn rất nhiều, DMO sẽ cần có 165 tỷ bảng Anh trong năm nay để chi trả cho “quả bóng” thâm hụt ngày càng phình lớn và thêm 170 tỷ bảng Anh trong năm sau. Đến giai đoạn năm 2014-2015 thì mức huy động sẽ giảm còn 87 tỷ bảng Anh, khi nền kinh tế phục hồi mạnh sau suy thoái.

Hai hãng đánh giá định mức tín nhiệm Moody's và Fitch đều cho rằng việc Anh cắt giảm thâm hụt ngân sách là thượng sách để cứu nước này không bị rớt hạng tín nhiệm từ mức Aaa. Mặt khác, Moody's cho rằng việc giảm thâm hụt ngân sách có thể tác động tiêu cực lên cầu nội địa, ngay cả khi tăng xuất khẩu ròng và giảm tiết kiệm.

Ngọc Ngân