Showing posts with label Macro Economy. Show all posts
Showing posts with label Macro Economy. Show all posts

Lạm phát giảm, châu Á vẫn phải lo


KIỀU OANH
14/01/2012 09:24 (GMT+7)
pictureTrong năm 2011 vừa qua, lạm phát tăng mạnh tại khu vực châu Á - Ảnh: Reuters.

Lạm phát tại nhiều nước châu Á như Trung Quốc và Việt Nam diễn biến theo hướng giảm thời gian gần đây. Tuy nhiên, theo báo Financial Times, các chính phủ trong khu vực sẽ đối mặt với thách thức không nhỏ trong năm 2012 này, vì bất kỳ một sai lầm chính sách nào cũng có thể khiến giá cả tăng vọt trở lại.


12/10 Mỹ Latin: Môi trường tốt cho lĩnh vực tài chính vi mô

12/10/2011 | 20:56:00


Ảnh minh họa. (Nguồn: Internet)
Tổ chức Economist Intelligence Unit đánh giá khu vực Mỹ Latin là nơi có môi trường kinh doanh tốt nhất đối với lĩnh vực tài chính vi mô trong thế giới các nước đang phát triển.

Theo nghiên cứu của tổ chức trên, trong 12 nước đứng đầu danh sách tài chính vi mô toàn cầu năm 2011 có tới 8 nước thuộc khu vực Mỹ Latin. Peru đứng đầu danh sách nhờ những tiến bộ trong khuôn khổ pháp lý cũng như các cam kết của quốc gia này trong việc tạo điều kiện tiếp cận nguồn tài chính cho người nghèo.

07/01 Những nhiệm vụ trọng tâm tái cấu trúc kinh tế trong năm 2011

2:59 PM, 07/01/2011

(Chinhphu.vn) - Bài viết đầu năm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ rõ: Khởi động mạnh mẽ quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng phải là một trong những nhiệm vụ trọng tâm và góp phần vào bảo đảm ưu tiên hàng đầu của năm 2011 là ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát.

Với tư tưởng chỉ đạo đó, từ bài viết của Thủ tướng, có thể nhận thức được một loạt nhiệm vụ và giải pháp cấp bách trong năm 2011là:

Thứ nhất, tái cấu trúc về tài chính-đầu tư: Phải giảm bớt chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư; kiên quyết cắt giảm các công trình chưa thực sự cần thiết, tập trung nguồn lực cho các dự án tạo ra năng lực sản xuất và năng lực xuất khẩu mới, các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội thiết yếu, sớm đưa vào sử dụng; giảm bội chi ngân sách và thâm hụt cán cân thương mại, kiềm chế tốc độ tăng giá. Hoàn thiện cơ chế chính sách về đầu tư để huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển và nâng cao hiệu quả đầu tư; mở rộng các hình thức đầu tư theo cơ chế BOT, BT, khẩn trương ban hành quy định về hợp tác công - tư (PPP) để phát triển hệ thống giao thông, nhất là các công trình lớn. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong đầu tư, xác lập quyền sử dụng đất, thủ tục hải quan, thuế, nhằm giảm chi phí kinh doanh cho DN.

Cải thiện khả năng tiếp cận vốn của DN. Hướng mạnh hoạt động của Ngân hàng Phát triển vào việc hỗ trợ DN vừa và nhỏ; tăng nguồn kinh phí bảo lãnh tín dụng và năng lực thẩm định dự án được bảo lãnh của Ngân hàng này. Ưu tiên nguồn tín dụng cho các sản phẩm trọng điểm. Nghiên cứu việc phân bổ hạn mức tín dụng cho các khu vực DN theo mức đóng góp vào GDP và kim ngạch xuất khẩu.



Cải thiện khả năng tiếp cận vốn của DN tiếp tục là một trong những yêu cầu được đặt ra trong năm 2011



Thứ hai, tái cấu trúc ngành, sản phẩm: Năm 2011, phải triển khai mạnh mẽ chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ, coi đây là một nội dung trọng tâm của tái cấu trúc các ngành sản xuất công nghiệp. Tạo sự gắn kết giữa các DN chế tạo với DN nghiệp lắp ráp, các DN trong nước với các nhà đầu tư nước ngoài trong việc lựa chọn và phát triển công nghiệp hỗ trợ theo cụm nhóm sản phẩm trên cơ sở thị trường có sự định hướng của Nhà nước, tập trung vào một số sản phẩm cơ khí, thiết bị điện, điện tử, sản phẩm công nghệ thông tin... (Thủ tướng cũng vừa ký Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia đến năm 2020, mà theo đó đến năm 2015, Việt Nam sẽ hình thành và phát triển tối thiểu 10 sản phẩm quốc gia do các DN khoa học và công nghệ sản xuất dựa trên công nghệ tiên tiến); khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư phát triển công nghiệp hỗ trợ; phát triển mạnh các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao, có tác động lan toả rộng như dịch vụ du lịch, phân phối, vận tải, dịch vụ logistics và các dịch vụ cảng biển, nhằm tận dụng vị thế địa kinh tế của nước ta trong chuỗi cung toàn cầu; triển khai chương trình quốc gia phát triển công nghệ thông tin, phấn đấu đến năm 2020 đưa Việt Nam thành nước mạnh về công nghệ thông tin.

Đẩy mạnh việc thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới. Nhà nước tăng đầu tư đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội ở nông thôn, đầu tư phát triển công nghệ sinh học, công nghiệp chế biến nhằm tạo ra các sản phẩm có năng suất cao, chất lượng tốt, có khả năng cạnh tranh. Tăng cường công tác kiểm tra theo các tiêu chuẩn an toàn và vệ sinh thực phẩm từ sản xuất, chế biến, lưu thông đến tiêu dùng. Đầu tư mạnh hơn cho hệ thống bảo quản, dự trữ để giảm hao hụt, bảo đảm chất lượng hàng hóa, điều hoà cung cầu, ổn định giá cả.

Thứ ba, tái cấu trúc về doanh nghiệp: Đẩy nhanh tiến trình đổi mới DN nhà nước, đẩy mạnh cổ phần hoá và cải cách các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Các tập đoàn và tổng công ty nhà nước cần tập trung vào một số lĩnh vực chủ yếu của nền kinh tế quốc dân, phải chuyển từ hoạt động đa dạng sang chuyên môn hoá nhằm thực hiện chính sách cơ cấu; đẩy mạnh đổi mới và sáng tạo, nâng cao hiệu quả và tạo lập năng lực cạnh tranh dài hạn để có thể tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Cải cách cơ chế và tổ chức nhằm nâng cao trách nhiệm và hiệu lực hiệu quả quản lý nhà nước và quản lý của chủ sở hữu đối với DN nhà nước, đặt DN nhà nước vào môi trường cạnh tranh và quy định các chỉ tiêu chất lượng hoạt động của DN. Thực hiện chế độ kiểm toán bắt buộc và công khai kết quả kiểm toán.

Thứ tư, tái cấu trúc thị trường: Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường nước ngoài, tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu. Tăng cường kiểm tra chất lượng các mặt hàng nhập khẩu, bảo vệ người tiêu dùng và khuyến khích sản xuất trong nước. Coi trọng hơn thị trường nội địa, nhất là thị trường nông thôn. Đẩy mạnh Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”…

Thứ năm, nâng cao năng lực quản lý nhà nước, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp: Đẩy mạnh hoàn thiện thể chế quản lý trên nguyên tắc bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân và thúc đẩy hình thành đồng bộ các yếu tố của kinh tế thị trường. Rà soát lại hệ thống phân cấp, bảo đảm tăng cường sự quản lý thống nhất của trung ương về quy hoạch phát triển, khai thác tối đa lợi thế so sánh theo tầm nhìn liên vùng nhằm tiết kiệm nguồn lực và bảo đảm quy mô kinh tế; đồng thời, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo và tinh thần trách nhiệm của địa phương, cơ sở.

Chính sách vĩ mô phải chuyển những thông điệp rõ ràng nhằm tạo niềm tin cho thị trường và định hướng cho sản xuất kinh doanh; phải theo sát sự vận động của kinh tế thế giới và trong nước; nâng cao năng lực dự báo, chủ động, nhạy bén trong phản ứng chính sách; linh hoạt sử dụng phù hợp các công cụ của chính sách tiền tệ theo nguyên tắc thị trường, hạn chế sử dụng các biện pháp hành chính khi không thực sự cần thiết; nâng cao hiệu quả bình ổn và điều hòa nguồn vốn giữa các tổ chức tín dụng của thị trường liên ngân hàng; kết hợp chặt chẽ chính sách tài khoá với chính sách tiền tệ để ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát. Tăng cường giám sát hoạt động của các tổ chức tín dụng, công ty chứng khoán, quỹ đầu tư, bảo đảm kinh doanh trung thực, tuân thủ các tiêu chuẩn an toàn.

Tập trung hoàn thiện thể chế, tạo lập thị trường đất đai lành mạnh trên nguyên tắc đất đai là công thổ quốc gia và là tư liệu sản xuất chủ yếu của nông dân. Nhà nước và người giao lại quyền sử dụng đất phải là những đối tượng được hưởng lợi chủ yếu từ việc chuyển giao quyền sử dụng đất. Đây là nguyên tắc cơ bản để hình thành chính sách và thị trường đất đai. Hoàn thiện cơ chế quản lý nhằm thúc đẩy dịch vụ tài chính và kinh doanh bất động sản phát triển lành mạnh.

Khẩn trương hoàn chỉnh cơ chế, chính sách phát triển và tổ chức quản lý công nghiệp hỗ trợ. Phát triển các dịch vụ hỗ trợ khởi nghiệp. Phát triển nhanh thị trường công nghệ. Ban hành các chính sách khuyến khích DN ứng dụng và đổi mới công nghệ nhằm thúc đẩy quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

Cùng với những nhiệm vụ nêu trên, phải luôn coi trọng và thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đối ngoại, tạo môi trường hoà bình ổn định để phát triển KT-XH, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.



Phát triển mạnh đào tạo nghề với số lượng và cơ cấu phù hợp với nhu cầu thị trường



Xây dựng và triển khai có hiệu quả Chiến lược an sinh xã hội 2011 - 2020, Chương trình giảm nghèo bền vững và chương trình việc làm giai đoạn 2011 - 2015; phấn đấu để năm 2011 tỷ lệ hộ nghèo giảm 2% theo chuẩn mới; phát triển các loại hình bảo hiểm, mở rộng mạng lưới an sinh xã hội.

Hoàn thiện chính sách khám chữa bệnh, chính sách viện phí. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng các bệnh viện từ nguồn vốn Nhà nước, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng bệnh viện; tăng cường đưa bác sỹ về các bệnh viện tuyến huyện và các xã, bảo đảm sự đồng bộ giữa cơ sở vật chất, trang thiết bị với đội ngũ thầy thuốc sử dụng các trang thiết bị, cải thiện chất lượng khám chữa bệnh ở các bệnh viện tuyến dưới, giảm tải cho các bệnh viện tuyến trên. Tăng cường quản lý nhà nước về thuốc chữa bệnh, về bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm.

Thực hiện các giải pháp đồng bộ để nâng cao chất lượng giáo dục; tiếp tục thực hiện các đề án về giáo dục đào tạo đã được phê duyệt; coi trọng chất lượng giáo dục phổ thông trên cả hai nội dung dạy chữ và rèn luyện nhân cách, dạy làm người. Trên cơ sở bảo đảm đội ngũ giáo viên, điều kiện dạy và học để mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng giáo dục đại học và cao đẳng; triển khai xây dựng một số trường đại học chất lượng cao theo chương trình hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế. Phát triển mạnh đào tạo nghề với số lượng và cơ cấu phù hợp với nhu cầu thị trường, chú trọng đào tạo nghề cho công nghiệp hỗ trợ.

Tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả thiết thực, hướng mạnh vào xây dựng văn hóa trong ứng xử, bài trừ các hủ tục mê tín dị đoan, làm cho văn hóa thấm sâu vào hành vi và nếp sống của mỗi người Việt Nam. Làm tốt công tác tuyên truyền để nâng cao ý thức của người dân và doanh nghiệp trong việc bảo vệ môi trường. Tăng cường kiểm tra, thanh tra và xử lý nghiêm những vi phạm pháp luật. Triển khai Chương trình mục tiêu và Kế hoạch hành động quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu, nhất là nước biển dâng, các chương trình nâng cấp đê biển, đê sông, các giải pháp chống ngập úng cho các thành phố lớn; ứng phó có hiệu quả với thiên tai bão lũ.

Đề cao trách nhiệm của các tổ chức Đảng và chính quyền các cấp; phát huy vai trò của Mặt trận, các đoàn thể, nhân dân và báo chí trong cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí. Thực hiện có hiệu quả chương trình phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội; bảo đảm trật tự an toàn giao thông…

Tóm lại, bài viết của Thủ tướng đã truyền tải những thông điệp quan trọng và rõ ràng, giúp nhận thức đúng đắn và quán triệt sâu sắc hơn các chủ trương, đường lối, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu phát triển đất nước ta trong thời kỳ mới nói chung, trong nhiệm vụ tái cấu trúc kinh tế theo yêu cầu phát triển hiện đại và bền vững nói riêng. Làm đúng và làm tốt những nhiệm vụ trên, nhất định Việt Nam sẽ sớm tạo ra những động lực phát triển mới, theo chiều sâu, hiệu quả và bền vững hơn, sớm thỏa lòng mong mỏi của Bác Hồ về xây dựng một nước Việt Nam ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành, chữa bệnh và hạnh phúc./.

>> Bài liên quan:

Bài toán tái cấu trúc nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020

TS.Nguyễn Minh Phong

(Viện Nghiên cứu phát triển KT-XH Hà Nội)

17/10 Ba lý do Mỹ nên thúc đẩy lạm phát

Fed nói sẽ làm tất cả để kích thích nền kinh tế, thậm chí kể cả việc khiến lạm phát gia tăng. Và dưới đây là những lý do cho phép Fed có thể hành động như vậy.



Chắc chắn người dân Mỹ sẽ không thoải mái gì khi phải chi trả nhiều hơn cho sinh hoạt phí hàng ngày trong tình trạng thâm thủng ngân quỹ và thiếu hụt việc làm hiện nay.

Tuy nhiên, một số nhà kinh tế học lập luận rằng việc thúc đẩy lạm phát theo một tỷ lệ vừa phải sẽ giúp kích thích nền kinh tế đang tăng trưởng chậm lại.

Chính sách tiền tệ nới lỏng không phải bao giờ cũng có tác động tích cực. Trên thực tế, nó thường khiến người dân cảm thấy mình “nghèo đi” bởi giá cả mọi mặt hàng từ ô tô cho đến ti vi đều tăng lên.

Mặt khác, một tỷ lệ lạm phát cao hơn sẽ làm đồng đô la giảm dần giá trị và ăn mòn tiền gửi tiết kiệm trong ngân hàng, do đó gián tiếp buộc người dân tiêu tiền càng sớm càng tốt.

Mặc dù chính sách này hiếm khi mang lại tác dụng, song trong một bài báo gần đây, James Surowiecki, cây bút của tờ The New Yorker, đã chỉ ra rằng lạm phát thực sự đã có lúc là động lực nâng đỡ nền kinh tế Mỹ trong quá khứ.

Sau Thế chiến thứ II, nước Mỹ đã có một khoảng thời gian chứng kiến sự gia tăng liên tục của mặt bằng giá cả làm cho nợ công giảm xuống mức có thể khống chế.

Surowiecki nhận xét: “Thúc đẩy lạm phát có lẽ không phải là một chính sách tốt, nhưng nó là chính sách đúng đắn”. Dường như Fed đang dần bị thuyết phục với biện pháp này.

Mới đây, Fed tuyên bố rằng họ sẵn sàng kích thích lạm phát nếu điều đó thực sự cần thiết để “giúp nền kinh tế phục hồi và lạm phát được điều chỉnh hợp lý qua từng giai đoạn thích hợp với sứ mệnh của nó”.

Cây bút Colin Barr của Fortune đã chỉ ra rằng thông điệp của Fed hàm chứa quyết tâm khá mạnh mẽ khi đây là lần đầu tiên giới chức thừa nhận ảnh hưởng của việc giảm lạm phát buộc họ phải đẩy giá cả lên.

Dưới đây là 3 lý do giải thích tại sao lạm phát có thể đem lại sự khởi sắc cho nền kinh tế:

Giảm bớt nợ nần

Tình hình tài chính của các hộ gia đình Mỹ đang rất tồi tệ, và đây là một trong những nhân tố chủ yếu cản trở đà hồi phục kinh tế.

Chính hành động chi tiêu phung phí của người tiêu dùng trong nhiều năm trước đây đã gây ra cuộc khủng hoảng tài chính, mà giờ đây đa số họ đang trở thành nạn nhân của nó với gánh nặng nợ nần khổng lồ.

Gần 1/4 số người sở hữu nhà đang nợ nhiều hơn giá trị ngôi nhà của họ, tính theo giá thị trường hiện nay. Không những thế, giá trị tài sản ròng của các hộ gia đình đang ngày càng suy giảm: riêng trong quý II năm nay, nó đã hao hụt tới 1,5 nghìn tỷ USD.

Nếu như lạm phát xảy ra, giá cả được điều chỉnh tăng thì rõ ràng giá trị khối tài sản này sẽ được cải thiện. Thêm vào đó, tiền lương cũng sẽ tăng giúp cho người dân dễ thở hơn với những khoản nợ đang thúc giục.

Trên hết, tác động lớn nhất của lạm phát là giá trị tương đối của gánh nặng nợ sẽ giảm đi khi mặt bằng giá cả hàng hóa tăng lên.

Tất nhiên, khoản nợ công khổng lồ cũng sẽ giảm bớt phần nào, tuy rằng đa số các nhà kinh tế dự đoán nó vẫn sẽ gia tăng trong năm tới.

Lãi suất trái phiếu chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm hiện đang ở mức 2,75% và được dự báo sẽ tăng lên 3,5%, thậm chí 1/3 số chuyên gia trong cuộc điều tra của CNN cho rằng lãi suất sẽ còn lên tới 4%.

Dù không thể xóa bỏ hoàn toàn nỗi lo lăng về nợ nần, song việc kích thích lạm phát sẽ giúp nới lỏng những ràng buộc mà chính phủ và người dân đang phải gánh chịu.

Kích thích chi tiêu

Trong hoàn cảnh tỷ lệ tiết kiệm của người dân và doanh nghiệp ở mức cao bất thường như hiện nay, một “cú hích” nhằm vào chi tiêu và đầu tư chính là những gì nền kinh tế Mỹ thực sự cần để có thể bứt phá.

Một “liều thuốc” lạm phát vừa phải chính là tác nhân tạo ra cú hích đó.

Nếu người tiêu dùng dự đoán giá cả tăng trong tương lai thì họ sẽ chọn giải pháp tiêu tiền sớm để có lợi hơn, bởi đồng tiền nhàn rỗi ngày càng giảm giá trị tương đối. Hay nói cách khác, gia tăng lạm phát làm giảm động lực tiết kiệm của người dân.

Trong dài hạn, gia tăng tiết kiệm thực sự có tác động tích cực đối với nền kinh tế, song nếu xem xét trong ngắn hạn thì việc kích thích chi tiêu là cần thiết hơn để thúc đẩy sự hồi phục.

Tạo việc làm nhờ tăng chi tiêu và đầu tư

Một trong những trở ngại chính làm cho các doanh nghiệp không mặn mà tuyển dụng thêm nhân công là do sức cầu tiêu dùng quá yếu.

Nếu như lạm phát xảy ra, chi tiêu sẽ được kích thích, phía cầu cải thiện thì tất yếu các nhà sản xuất cũng sẽ chớp lấy thời cơ phát triển và thuê mướn lao động nhiều hơn.

Tuy nhiên, vẫn còn nhiều yếu tố bất ổn khác có thể khiến cho các nhà lãnh đạo doanh nghiệp do dự trong việc bổ sung lao động, chẳng hạn như khoản chi phí tăng do Luật cải cách hệ thống y tế hay hệ thống thuế thay đổi như thế nào trong năm tới.

Dù chưa thể là giải pháp toàn diện để khắc phục tình trạng trì trệ, song việc kích thích lạm phát ở mức độ vừa phải trong một khoảng thời gian nhất định cũng có thể cải thiện phần nào những thương tổn của nền kinh tế.

Hoàng Sơn
Theo Fortune

28/09 Nguồn gốc khủng hoảng tài chính

Thứ Ba, 28-09-2010 - 01:52 CH theo thaihabooks

Cuốn sách này được viết ra như một câu trả lời cho cuộc khủng hoảng tín dụng hiện nay nhằm lý giải nguyên nhân tại sao nền kinh tế toàn cầu nói chung và nền kinh tế Mỹ nói riêng lại bị mắc kẹt trong đám bong bóng giá tài sản tưởng chừng như vô tận do các cuộc khủng hoảng tín dụng gây ra. Cuốn sách miêu tả quá trình tạo nên nhưng vòng quay luẩn quẩn này và sau đó, chỉ ra lý do đằng sau những sai lầm trong chính sách đã làm trầm trọng thêm những chu kỳ ấy.



Tác giả: George Cooper
Dịch giả: Minh Khôi – Thủy Nguyệt
Phát hành: NXB Lao động – Xã hội – Công ty Cổ phần Sách Thái Hà
Năm xuất bản: 2008
Số trang: 238
Khổ sách: 13x20.5

Tôi hy vọng cuốn sách sẽ đưa ra những thảo luận sâu sắc hơn về cách chúng ta nên đổi mới các chính sách kinh tế vĩ mô và giúp đa số độc giả hiểu về tính bất ổn tài chính và ngân hàng trung ương. Nếu chúng ta có ý định phá vỡ các chu kỳ bùng - vỡ (booms and busts) nguy hại, mọi chủ thể tham gia nền kinh tế cần nhận thức được chính xác vai trò và những giới hạn của các chính sách kinh tế vĩ mô. Các chính trị gia và người dân cần nhận thức rõ ràng việc áp dụng các chính sách tiền tệ và tài khóa để ngăn chặn ngay lập tức những suy thoái kinh tế là điều không thể. Các ngân hàng trung ương nên quay trở lại với mục đích chính của mình là quản lý quá trình tạo tín dụng và cần phải học cách chung sống với những sức ép từ phía các chính trị gia cũng như từ khu vục kinh tế tư nhân đòi mở rộng việc bơm tín dụng không ngừng vào nền kinh tế.

Trọng tâm của cuốn sách này nằm ở lý luận rằng hệ thống tài chính của chúng ta không vận hành theo các quy luật của Thuyết Thị trường Hiệu quả1 như nhận thức phổ biến về kinh tế hiện nay. Thuyết Thị trường Hiệu quả mô tả hệ thống tài chính của chúng ta như một con vật ngoan ngoãn, khi không có sự can thiệp, nó sẽ tự điều chỉnh về điểm cân bằng tối ưu. Quan điểm của tôi là hệ thống tài chính của chúng ta vốn bất ổn, không hề có trạng thái cân bằng ổn định và thường thiên về hướng tạo nên những chu kỳ bùng vỡ nguy hại. Tôi cũng cho rằng tình trạng không ổn định này đòi hỏi các ngân hàng trung ương phải quản lý quá trình tạo tín dụng. Tuy nhiên, tôi cũng lý giải việc các chính sách của ngân hàng trung ương theo thời gian đã trượt từ mục tiêu bình ổn các hoạt động kinh tế sang thái cực ngược lại, khuyếch đại các chu kỳ bùng - vỡ làm bất ổn thêm nền kinh tế của chúng ta.

Cuốn sách cũng chỉ ra Cục Dự thi Liên bang Mỹ đã trượt vào mô thức chính sách tiền tệ, tạo ra các chu kỳ tín dụng cực kỳ to lớn và nếu còn tiếp tục, mô thức này sẽ làm suy yếu triển vọng của nền kinh tế quan trọng và thịnh vượng nhất thế giới.

George Cooper

Tháng 4 năm 2008

1 Thuyết Thị trường Hiệu quả (Efficient Market Hypothesis) còn được biết với cái tên là Random Walk theory, được nhà toán học người Pháp Louis Bachelier khởi xướng đầu tiên vào năm 1900, và sau này nhận được sự bổ sung trong thời hiện đại của Burton Malkiel trong cuốn A Random Walk Down Wall Street.

Nguồn gốc khủng hoảng tài chính đưa ra các phân tích rất thuyết phục về những áp lực đằng sau cuộc suy thoái kinh tế hiện nay. Bằng cách đưa ra những lập luận của mình, Cooper đã thách thức cả những nguyên tắc cơ bản của những học thuyết kinh tế hiện dại và chỉ ra những sai lầm chết người của nó, giải thích tại sao thị trường tài chính lại không tuân theo Thuyết Thị Trường Hiệu quả mà cứ liên tục chao đảo và rơi vào suy thoái, khủng hoảng.

Cooper đã tóm tắt quá trình tiến hóa phát triển của hệ thống tiền tệ, giải thích tại sao tài chính lại ổn định và tại sao sự ổn định này lại cần đến hệ thống ngân hàng trung ương. Tác giả này cho rằng, chính việc nâng cao sức mạnh của thị trường đã làm cho hệ thống ngân hàng trung ương quên mất nhiệm vụ chính của chúng. Kết quả là không có sự diều tiết của hệ thống ngân hàng trung ương, thị trường dễ rơi vào những quy trình bùng vỡ.

Nguồn gốc khủng hoảng tài chính sẽ giúp độc giả hiểu thêm về giảm phát và khám phá ra cách các nhà hoạch định chính sách có hể học hỏi từ một tài liệu thuần kỹ thuật về động cơ hơi nước để tránh những sai lầm trong chính sách tiền tệ lặp đi lặp lại gần đây. Sự kết hợp tưởng chừng như quá khác biệt giữa khoa học tự nhiên và những lý thuyết kinh tế sẽ mang lại những khám phá thú vị, và cả những hiệu quả bất ngờ trong cuộc tìm kiếm giải pháp cho khủng hoảng hiện nay.

Hãy cùng Cooper đi hết Nguồn gốc của cuộc khủng hoảng tài chính để tìm thấy câu trả lời cho chính bạn.

Mục lục

Lời cảm ơn
Lời nói đầu

1. Giới thiệu
2. Các thị trường hiệu quả và các ngân hàng trung ương
3. Tiền, ngân hàng và ngân hàng trung ương
4. Các thị trường ổn định và không ổn định
5. Những lập luận mập mờ
6. Các thống đốc ngân hàng trung ương
7. Minsky gặp gỡ Mandelbrot
8. Đối mặt với ảo tưởng về thị trường hiệu quả
9. Các kết luận

Phụ lục

Từ khóa bài viết: nguồn gốc, khủng hoảng tài chính, George Cooper, ách kinh tế vĩ mô

20/09 7月の全産業活動指数(22日) 4カ月連続で上昇へ 三井住友AMチーフエコノミスト 宅森昭吉

 経済産業省は22日、7月の全産業活動指数を発表する。季節調整済みでは前月より0.9%程度高い97.0前後になりそうだ。4カ月連続で前月を上回り、景気の拡大局面が続いていることを裏付ける見通し。7月には消費者が、環境保全に配慮した「」に対する政府の補助金が残り少なくなったことで自動車を買い急ぎ、猛暑をしのぐため衣料品や飲料の購入を増やしたとみられる。



 全産業活動指数の構成要素として6割以上のウエート(比率)を持つ第3次産業活動指数は、7月の上昇率が前月比1.6%に達した。これは一般的な予想を0.9ポイントほど上回っている。

 一方、全産業活動指数に対するウエートが2割弱の鉱工業生産指数は7月、前月より0.2%下落した。7月の内訳を推定すると、たばこの生産が10月1日の値上げを控えた駆け込み需要で伸びたが、医薬品の生産は落ち込んだとみられる。

 全産業活動指数は各産業が生み出す付加価値の増減を反映する。そのため、国内総生産(GDP)の推移と似た動きをすることが多い。やや気が早いが、7~9月期の実質成長率は前期比年率で2%台に乗る可能性が高い。これは4~6月期の同1.5%をしのぐ。7~9月期を通して消費が堅調になるとみられるためだ。エコカー補助金、猛暑は8月以降も消費の底上げ要因になった。

 さらに先の話になるが、10~12月期の実質GDP成長率は、7~9月期の反動で低い値になるという見方が多い。

Hedge Fund Managers Set Up for Next Acts

By JULIE CRESWELL
Published: September 16, 2010

James J. Pallotta, a legend of the hedge fund industry, is calling a do-over.

After shutting his giant fund following a humbling loss, Mr. Pallotta, the money manager who is an owner of the Boston Celtics, is doing what hedge fund types do in tough times: he is opening a new fund.

There have been plenty of mulligans in the rarefied realm of hedge funds these days. Mr. Pallotta, 52, is one of a number of prominent money managers who are trying to start afresh after the tumult of the financial crisis.

By closing one fund and opening another, managers can, in a stroke, wipe clean their investment records and start collecting fees from new investors.

Who would entrust their money to a hedge fund washout? Plenty of people, it turns out. Before the financial collapse, Mr. Pallotta had a record of handsome returns. His new fund, called Raptor Evolution (his old one was Raptor Global), will in all likelihood have no trouble drumming up investors, analysts said.

“Will it be easy for him to raise money? Yes,” said Tim Berry, a head of hedge fund investments at Private Advisors, a Richmond, Va., firm that advises large institutions on their investments. “He has a long track record of success.”

Others hoping for a comeback include Gabe Nechamkin, a former trader for George Soros, and John W. Meriwether, whose Long-Term Capital Management failed spectacularly in 1998. Mr. Nechamkin is on his second fund, Mr. Meriwether his third.

Not everyone will get a second or third chance. Hedge funds, whose outsize returns — and paydays — defined an era of Wall Street riches, are in the midst of a painful shakeout.

Over the last two and a half years, investors have withdrawn nearly $320 billion from these private investment pools, leaving the industry’s combined assets at $1.5 trillion, according to data from BarclayHedge.

Small funds have been hit hardest. Since their number worldwide peaked at 12,000 in 2007, it has fallen to about 8,400, according to research from the executive search firm Heidrick & Struggles.

The industry as a whole struggled in 2008 and 2009, and this year is not looking much better. For the year through the end of August, the average hedge fund was down 1.4 percent, according to Lipper, a unit of Thomson Reuters. Investors are increasingly asking themselves whether they would be better off putting their money in a low-cost index fund. The Standard & Poor’s 500-stock index is up 0.5 percent.

Given that showing, nearly half of the hedge funds included in the Hedge Fund Research Index have been running below the levels they need to attain to earn their rich performance fees for the last three years. (Hedge funds typically charge a management fee of 1 to 2 percent and take a 20 percent cut of profits provided they pass performance milestones known as high water marks.)

“It’s a pretty crowded field with very high fees,” said Todd Buchholz, a former managing director at Tiger Management, the hedge fund firm run by Julian H. Robertson Jr.

“I don’t see that this is the death or the last gasp of hedge funds, but there is certainly a shaking out going on here,” said Mr. Buchholz, who now oversees a real estate hedge fund called Two Oceans. Some managers are closing underperforming or money-losing funds and trying to persuade their old investors, plus some new ones, to provide new capital.

These funds face two challenges, however. Many have to agree to make up past losses before earning a performance fee from their previous investors — if those investors return at all.

Most also have to indicate to investors that they have learned their lessons and that the investment strategies of their new funds — at least on the surface — will address past problems.

Jeffrey Gendell’s firm, Tontine Capital Partners, averaged returns of 38 percent from 1997 to 2007. Tontine Capital oversaw $7 billion before it closed two funds that had lost more than two-thirds of their value in 2008; a few months later, in 2009, Mr. Gendell opened a new hedge fund.

The new fund, Mr. Gendell said in a letter to investors, would invest only in easy-to-trade securities and would not use leverage, or borrowed money, to improve its returns. Mr. Gendell vowed he would not collect performance fees until investors had recouped their previous losses. A spokesman said Mr. Gendell declined to comment.

It is unclear whether Mr. Nechamkin and Mr. Meriwether, neither of whom returned a call, are using new and improved strategies or offering to make legacy investors whole before collecting new performance fees.

The looming question for these and other managers is whether investors are willing to forgive and forget.

Hedge fund managers and their employees are reluctant to discuss their attempted comebacks. One individual who worked at a fund that closed and is now trying to raise money for a new fund said many in the industry were trying to play up their past success, rather than their recent losses.

“It creates a weird dynamic,” this person said, who asked not to be named so as not to jeopardize the new fund. “You want to be part of the good, but not part of the bad.”

For Mr. Pallotta, whose Raptor funds had more than $12 billion in assets at their height, there were a lot of good years.

Mr. Pallotta — who recently built a 27,000-square-foot home in one of Boston’s wealthiest enclaves — posted average annual returns of 19.2 percent in the 15 years he worked for the billionaire Paul Tudor Jones and five years before that at Essex Investment Management.

Raptor was spun out of Tudor Investments in late 2008, after the fund lost 20 percent. Turning in a flat performance in the first few months of 2009, Mr. Pallotta shut the fund n that June, telling investors in a letter that he had doubts about “the sustainability of certain aspects of the industry’s structure and short-term focus.”

A spokesman said Mr. Pallotta declined to comment.

With his new fund, Mr. Pallotta is going back to Square 1, recreating the conditions that he had at the start of his career, said a person with knowledge of the fund, who declined to be named because of continuing efforts to raise capital.

Using a small team and focusing on a small number of securities, Mr. Pallotta is not looking to become a megafund for now, this person said. So far, Mr. Pallotta has won back some old investors, as well as new ones. But he will not earn a performance fee on the new fund until previous investors recoup their losses.

As Mr. Berry put it: “If he’s passionate about investing and doesn’t mind working with a smaller capital base for a while and wants to prove to investors he’s still got it, then he’ll do fine.”


Related Searches


Hedge Funds
Subprime Mortgage Crisis
Executives and Management
Prices (Fares, Fees and Rates)

14/09 リーマン2年 二極化世界 日米欧、デフレ圧力消えず 新興国急成長、バブル化も

 2008年9月15日のリーマン・ショックから2年が経過する。先進各国は緊急財政出動や金融緩和で危機を乗り切り、その後は中国など新興国の成長を取り込む形で回復過程に入りつつある。だが、日米欧とも過去の負の遺産が重く、新興国にもバブル化の懸念がつきまとう。


構造変化一段と


 米証券大手リーマン・ブラザーズの破綻を境に世界経済は冷え込み、09年の世界経済成長率は戦後初めてのマイナスを記録した。先進各国は09年を財政出動や金融緩和でしのぎ、ギリシャ危機をきっかけに深刻化した今春の欧州金融不安も資金供給の緊急避難措置で何とか乗り切った。

 この間に世界は大きく変わった。先進国が財政悪化や過去の負の遺産にあえぎ低成長を余儀なくされるなか、中国をはじめとする新興国は世界経済のけん引役すら期待されるようになった。株価の変化がそれを物語る。

 自動車市場でみると、世界の構造変化が一段とはっきりする。米調査会社によると、世界の自動車販売台数はリーマン・ショック後にピーク時に比べて15%落ち込んだが、10年1~6月期には2年前と同水準まで回復した。これを支えたのが中国で、同期の新車販売台数は2年前比7割増の約900万台となった。

 国際通貨基金(IMF)によるとドル換算した10年の名目国内総生産(GDP)見通しは世界合計で61兆7800億ドルで、2年前に比べて5600億ドル程度増。内訳を見ると、先進国は7100億ドル減の41兆5600億ドルだが、新興・途上国は1兆2700億ドル増の20兆2200億ドルだった。

 各国は新興国市場の取り込みに躍起で、世界では輸出が有利になるような「通貨安競争」も起きている。かつて「強いドルは国益」と言い続けた米国はもう「強いドル」を口にせず、金融不安を抱える欧州はユーロ安もあって輸出が好調だ。

 金融緩和余地が限られるうえ、日米関係が基軸の日本は円売り・ドル買い介入にも踏み切りにくく、結果的に円の独歩高を招いている。構造的なデフレ圧力が残る日本には、厳しい戦いだ。


「低迷10年続く」


 世界経済はどうなるのか。先月末、米連邦準備理事会(FRB)のラインハート元金融政策局長とその妻のメリーランド大教授の共作論文が話題を集めた。米ワイオミング州ジャクソンホールで開かれたシンポジウムに提出され、「崩落の後で」と題されていた。「過去の大不況などから類推しても、金融危機後の経済低迷は10年は続く」。論文は指摘する。

 背景にあるのが日米欧の負の遺産だ。米国は過去の過剰消費に伴う個人などの債務、欧州は金融システム不安、日本は構造的デフレ圧力がのしかかる。日米欧は現段階で合計約1兆ドルの需要不足(供給過剰)状態との試算もある。

 特に住宅バブルの崩壊などで打撃を受けた欧米は日本の1990年代にも似て、実体経済と金融システムが「負の相乗効果」をもたらす懸念がある。経済協力開発機構(OECD)は9日、日米欧の成長率を5月時点から軒並み下方修正した。

 一方の新興国。引き締め気味の政策に転じたとはいえ、中国などでは不動産バブルの恐れが消えない。80年代の日本、90年代以降の米国と二重写しになる。投機マネーが流れ込む他のアジア諸国にも危険は潜む。

 先進国のデフレと新興国のバブルという逆方向の懸念を抱えながら走る世界経済。リーマン・ショックを境に顕在化したその姿は、世界が単線的な成長路線に戻るわけではないことを示しているように見える。

09/09 Paul Krugman: Things Could Be Worse

By PAUL KRUGMAN
TOKYO

“Japan’s problems now are the same as they were in the 1990s, when you were writing about them. It’s depressing.” So declared one economist I spoke to here. “But the Japanese don’t seem all that depressed,” objected another. Both were right — and the conversation crystallized some thoughts I’ve been having about Japan’s situation, and ours.

A decade ago, Japan was a byword for failed economic policies: years after its real estate bubble burst, it was still suffering from chronic deflation and slow growth. Then America had its own bubble, bust and crisis. And these days, Japan’s record doesn’t look that bad to an American eye.

Why not? For all its flaws, Japanese policy limited and contained the damage from a financial bust. And the question in America now is whether we’ll do the same — or whether we will take a hard right turn into economic disaster.

In the 1990s, Japan conducted a dress rehearsal for the crisis that struck much of the world in 2008. Runaway banks fueled a bubble in land prices; when the bubble burst, these banks were severely weakened, as were the balance sheets of everyone who had borrowed in the belief that land prices would stay high. The result was protracted economic weakness.

And the policy response was too little, too late. The Bank of Japan cut interest rates and took other steps to pump up spending, but it was always behind the curve and persistent deflation took hold. The government propped up employment with public works programs, but its efforts were never focused enough to start a self-sustaining recovery. Banks were kept afloat, but were slow to face up to bad debts and resume lending. The result of inadequate policy was an economy that remains depressed to this day.

Yet the picture is grayish rather than pitch black. Japan’s economy may be depressed, but it’s not in a depression. The employment picture has been troubled, with a growing number of “freeters” living from temporary job to temporary job. But thanks to those government job-creation plans, the country isn’t suffering mass unemployment. Debt has risen, but despite constant warnings of imminent crisis — and even downgrades from rating agencies back in 2002 — the government is still able to borrow, long term, at an interest rate of only 1.1 percent.

In short, Japan’s performance has been disappointing but not disastrous. And given the policy agenda of America’s right, that’s a performance we may wish we’d managed to match.

Like their Japanese counterparts, American policy makers initially responded to a burst bubble and a financial crisis with half-measures. I’ve lamented that fact, but at this point it’s water under the bridge. The question is: What happens now?

Republican obstruction means that the best we can hope for in the near future are palliative measures — modest additional spending like the infrastructure program President Obama proposed this week, aid to state and local governments to help them avoid severe further cutbacks, aid to the unemployed to reduce hardship and maintain spending power.

Even with such measures, we’ll be lucky to do as well as Japan did at limiting the human and economic cost of the economy’s financial woes. But it’s by no means certain that we’ll do even that much. If the Republicans go beyond obstruction to actually setting policy — which they might if they win big in November — we’ll be on our way to economic performance that makes Japan look like the promised land.

It’s hard to overstate how destructive the economic ideas offered earlier this week by John Boehner, the House minority leader, would be if put into practice. Basically, he proposes two things: large tax cuts for the wealthy that would increase the budget deficit while doing little to support the economy, and sharp spending cuts that would depress the economy while doing little to improve budget prospects. Fewer jobs and bigger deficits — the perfect combination.

More broadly, if Republicans regain power, they will surely do what they did during the Bush years: they won’t seriously try to address the economy’s troubles; they’ll just use those troubles as an excuse to push the usual agenda, including Social Security privatization. They’ll also surely try to repeal health reform, which would be another twofer, reducing economic security even as it increases long-term deficits.

So I find myself almost envying the Japanese. Yes, their performance has been disappointing. But things could have been worse. And the case Democrats now need to make — the case the president finally began to make in Cleveland this week — is that if Republicans regain power, things will indeed be worse. Americans, understandably, are disappointed over, frustrated with and angry about the state of the economy; but disappointment is better than disaster.

米国株、大幅高で始まる ダウ4日続伸し120ドル高、米景気の警戒後退

【NQNニューヨーク=滝口朋史】3日の米株式相場は大幅高で始まった。ダウ工業株30種平均は午前9時40分現在、前日比120ドル04セント高の1万0440ドル14セントで推移している。朝方発表の8月の米雇用統計が市場予想ほど悪化せず、米景気の先行きに対する過度の警戒感が後退。景気動向に敏感な金融株や一般産業株など幅広い銘柄に買いが広がっている。ハイテク株の比率が高いナスダック総合株価指数は、3日続伸し同33.16ポイント高の2233.17で推移している。

 8月の雇用統計で非農業部門の雇用者数は5万4000人減と、減少幅は市場予想(約11万人減)に比べ小幅にとどまった。民間部門の雇用者数は6万7000人増と、2万8000人程度の増加を見込んでいた予想を上回った。米雇用環境の回復が鈍化し、個人消費の減少などを通じて米景気の重荷になるとの悲観的な見方が後退した。

 前日の通常取引終了後に発表した四半期決算が大幅な増収となり最終損益が黒字化したゲームソフト大手のテイクツー・インタラクティブ・ソフトウエアが14%以上の急伸。前日夕に次世代電力網(スマートグリッド)関連のIT(情報技術)ベンチャーを買収すると発表したネットワーク機器大手のシスコシステムズも2%近く上げている。

 ダウ平均構成銘柄ではホームセンター大手ホーム・デポが約3%上昇し、上昇率首位。米銀大手バンク・オブ・アメリカやJPモルガン・チェースも買われている。航空機大手ボーイングや建機大手キャタピラーも高い。ダウ平均構成銘柄は全銘柄が上昇している。

 一方、朝方発表した四半期決算で売上高が市場予想に届かなかった食品大手のキャンベル・スープが2%あまり下落している。