アジア開銀・世銀、エコ型交通機関に共同融資
Hội nghị các Bộ trưởng Tài chính ASEAN lần thứ 16
![]() |
| Thủ tướng nước chủ nhà Campuchia Hun Sen phát biểu. (Ảnh: Chí Hùng/Vietnam+) |
Thứ trưởng Trương Chí Trung dẫn đầu đoàn đại biểu Bộ Tài chính Việt Nam tham dự Hội nghị.
Phát biểu khai mạc Hội nghị, Thủ tướng nước chủ nhà Campuchia Hun Sen khẳng định, Hội nghị lần này là cơ hội để các nước ASEAN đẩy mạnh tiến trình hợp tác, củng cố nền tài chính, kinh tế của mỗi nước và khu vực trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu vẫn chưa ổn định và ẩn chứa nhiều rủi ro.
ADB: ASEAN sẽ tăng trưởng 5,2% trong năm 2012
![]() |
| Ảnh minh họa. (Nguồn: Internet) |
Tuy nhiên, Chủ tịch ADB cũng cảnh báo các quốc gia ASEAN cần "thận trọng."
Đây là mức dự báo cao hơn tăng trưởng 4,6% của khu vực này trong năm ngoái. Cụ thể hơn, ông Kuroda nhận xét Thái Lan và Philippines nhiều khả năng sẽ "tăng trưởng mạnh mẽ" sau sụt giảm xuất khẩu hồi năm ngoái trong khi Singapore và Malaysia ở một mức độ nào đó sẽ "giảm tốc độ" vì chịu ảnh hưởng nhiều hơn từ bất ổn tài chính bên ngoài.
26/08 ADB kêu gọi châu Á tăng cường hợp tác kinh tế
ADB cho rằng kinh tế châu Á, không như năm 2008, sẽ có khả năng phục hồi để đối phó với sự sụt giảm tăng trưởng của thế giới.Ảnh: The Economist |
08/07 6 tháng đầu năm: Ký kết 22 hiệp định vay nợ, viện trợ
The $60 Trillion Dollar Question: Business-as-Usual Transport Sector Projections for Asia and the Pacific
The $60 Trillion Dollar Question: Business-as-Usual Transport Sector Projections for Asia and the Pacific
ADB Partnering with 5 Banks to Support Turkey's Trade with Asia
ADB Partnering with 5 Banks to Support Turkey's Trade with Asia
04/07 Xu thế gia tăng dân số thành phố ở các nước châu Á
04/07/2011 | 15:29:00
Còn Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cho rằng vào giữa năm 2022, tại châu Á, lần đầu tiên số người sống ở thành phố sẽ đông hơn số người sống ở nông thôn, do "làn sóng người" đổ về các thành phố tìm kiếm việc làm và mưu cầu cuộc sống tốt hơn.
ADB cho rằng khoảng 1,1 tỷ người sẽ di cư từ nông thôn ra thành phố ở châu Á trong vòng chưa đầy 20 năm, tức là tới 137.000 người/ngày. Còn theo Viện nghiên cứu McKinsey Global (MGI), mỗi năm Ấn Độ cần xây dựng một thành phố cỡ lớn như Chicago của Mỹ để có thể cung cấp đủ chỗ ở và thương mại cho số người di cư của mình.
Một trăm thành phố mới của Trung Quốc sẽ gia nhập danh sách 600 trung tâm đô thị hàng đầu - tạo ra khoảng 60% GDP toàn cầu - trong 15 năm tới.
Việc dự báo về công dân thứ 7 tỷ của Liên hợp quốc cũng là một báo động về nhân khẩu học, khi dân số Trái Đất hiện nay nhiều gấp hai lần so với những năm 1960, và cho thấy xu hướng dòng chảy dân di cư từ nông thôn đổ về các thành phố. Mức độ khẩn thiết của cảnh báo này sẽ càng thấy rõ hơn nếu để ý rằng đứa trẻ thứ 6 tỷ được cựu Tổng thư ký Liên hợp quốc Kofi Annan chúc mừng tại Sarajevo, Bosnia, vào ngày 12/10/1999, hiện mới chỉ 11 tuổi.
Những vấn đề phát sinh do bùng nổ dân số là rất lớn: từ việc thiếu nhà ổ chuột khốn khổ, bệnh tật, tội phạm, ô nhiễm môi trường đến cơ sở hạ tầng gây ùn tắc giao thông.
Việc chuyển dời từ nông thôn ra thành thị không tự động dẫn đến thịnh vượng, bởi có rất nhiều người đã bị "gạt sang bên lề hay nằm lại trên đường."
Ủy ban Kinh tế và Xã hội của Liên hợp quốc khu vực châu Á-Thái Bình Dương lưu ý rằng đô thị cũng là nơi nghèo đói và sự chênh lệch tập trung nhất và có thể thấy rõ. Cụ thể, hơn 40% cư dân đô thị của châu Á-Thái Bình Dương sống trong khu ổ chuột, nơi không điều kiện tiếp cận các nhu cầu và dịch vụ cơ bản, cơ hội thu nhập và tham gia vào việc quyết định.
ADB chỉ ra rằng khách đến thăm nhiều thành phố châu Á đã bị sốc bởi tình trạng rác thải không được thu gom, tắc nghẽn giao thông, đội quân ăn xin và điều kiện sống tồi tàn tại nhiều khu vực rộng lớn. Nếu không có cách phát triển đô thị đúng đắn thì sẽ lặp lại sự căng thẳng mệt mỏi của cuộc sống đô thị tiêu thụ phương Tây hiện nay.
Các thành phố phải chiến thắng được tội phạm và bệnh tật, có đời sống tinh thần cao, hiệu quả và xanh sạch. Đó là xu hướng xây dựng đô thị và cuộc sống đô thị ở Canada, Thụy Sỹ và Australia, mà các nước đang phát triển cần hướng tới. Bởi theo dự báo dân số Trái Đất sẽ tăng lên 8 tỷ người vào ngày 15/6/2025./.
23/05 Trung Quốc đã “sập bẫy” thu nhập trung bình?
Hội nghị thường niên lần thứ 44 của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) diễn ra hồi đầu tháng tại Hà Nội một lần nữa nhắc tới khái niệm "bẫy thu nhập trung bình". Theo đó, ADB cảnh báo, các nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh chóng tại châu Á đang đứng trước nguy cơ rơi vào "bẫy thu nhập trung bình", khi dịch chuyển nguồn của tăng trưởng từ việc phụ thuộc vào tài nguyên như lao động rẻ và vốn, sang tăng trưởng dựa trên năng suất cao và đổi mới công nghệ.
Giới phân tích cho rằng, một trong số những quốc gia có nguy cơ rơi vào kịch bản này, nhiều nhất là Trung Quốc. Căn cứ vào số liệu thống kê mới nhất, GDP bình quân đầu người của Trung Quốc đã vượt qua ngưỡng 4.000 USD, bước vào hàng ngũ các nước có thu nhập trung bình. Và nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này cũng đã bắt đầu xuất hiện hiện tượng giống như ở những nước từng rơi vào "bẫy thu nhập trung bình".
Bẫy thu nhập trung bình là khái niệm chỉ tình trạng một quốc gia thoát nghèo, gia nhập vào nhóm nước có thu nhập trung bình nhưng mất nhiều thập kỷ vẫn không trở thành quốc gia phát triển. Đó là bởi vì khi đang thực sự nghèo, một đất nước có thể biến chính cái nghèo thành lợi thế. Nhân công giá rẻ làm cho một nền kinh tế có thu nhập thấp cạnh tranh trong sản xuất thâm dụng lao động (ví dụ trong các ngành dệt may, giày dép và đồ chơi).
Tuy nhiên, mô hình đó cuối cùng không tăng trưởng được nữa. Khi thu nhập tăng, chi phí tăng, các ngành công nghiệp sản xuất cũ kỹ, công nghệ thấp mất khả năng cạnh tranh. Các quốc gia sau đó phải chuyển "chuỗi giá trị" sang xuất khẩu các sản phẩm công nghệ tiên tiến hơn. Nhưng ngay cả như thế cũng không đủ để tránh bẫy. Để trở thành nền kinh tế có thu nhập cao, nó cần làm nhiều hơn là chỉ làm ra sản phẩm bằng cách tăng người và lao động cho các nhà máy. Nền kinh tế cần đổi mới và sử dụng lao động cũng như nguồn vốn hiệu quả hơn.
Điều đó đòi hỏi một mô hình hoàn toàn khác trong kinh doanh. Thay vì chỉ lắp ráp các sản phẩm được thiết kế bởi những nước khác, với công nghệ nhập khẩu, các công ty phải chủ động đầu tư mạnh vào nghiên cứu và phát triển, sử dụng lao động có tay nghề cao để chuyển hóa những khoản đầu tư thành sản phẩm mới và lợi nhuận. Đó sẽ là một sự thay đổi không dễ đạt được.
Theo Giáo sư Trịnh Vĩnh Niên thuộc Đại học Quốc gia Singapore, xét trên nhiều phương diện, Trung Quốc bắt đầu rơi vào "bẫy thu nhập trung bình". Thực tế, quốc gia này bắt đầu xuất hiện hiện tượng giống như những nước từng rơi vào "bẫy thu nhập trung bình" trải qua. Ví như tăng trưởng kinh tế thiếu động lực bền vững, phân hóa giàu nghèo, đô thị hóa quá mức, thiếu hụt dịch vụ công, khó khăn trong tạo việc làm...
"Bẫy thu nhập trung bình" cũng có thể nhìn thấy ở rất nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới như Brazil, Mexico, Chile, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines... Những nước này đều bước vào hàng ngũ các quốc gia có thu nhập trung bình từ nhiều chục năm trước, nhưng tới nay vẫn loay hoay trong giai đoạn phát triển thu nhập GDP bình quân đầu người từ 2.000 USD đến 5.000 USD. Khó đến mức mà nhà kinh tế người Nhật Kenichi Ono đã gọi đó là cái "trần thủy tinh" của các nước ASEAN.
Philippines là quốc gia điển hình về tình trạng vướng bẫy thu nhập trung bình, khi mất hàng thập kỷ không thể vượt qua ngưỡng 2.000 USD. Indonesia cũng mất hơn một thập kỷ để từ trên 1.000 USD vượt lên hơn 2.000 USD. Còn Thái Lan thì cũng mất hơn hai thập kỷ mới vượt qua con số 3.000 USD, nhưng vẫn chưa bước vào được nhóm nước có mức thu nhập trung bình của trung bình.
Nguyên nhân của tình trạng vướng bẫy trung bình được mô tả như là (i) sự suy giảm hiệu quả vốn đầu tư sau quá trình kích thích tăng trưởng; (ii) tiếp tục tình trạng của một nền kinh tế gia công (nền kinh tế trong nước không đủ sức tạo ra giá trị gia tăng mới để tham gia vào chuỗi giá trị công nghiệp toàn cầu; sự thống trị của các hãng mang thương hiệu nước ngoài); (iii) sự phân hóa thu nhập dẫn đến phân cực và bất ổn.
Quá trình phát triển từ thu nhập thấp đến thu nhập trung bình, bản thân nó cũng ngầm chứa nhiều yếu tố là nguyên nhân để một nước rơi vào bẫy trung bình. Đó là sự hủy hoại môi trường sống phải mất nhiều nguồn lực và thời gian khắc phục (có yếu tố vĩnh viễn không phục hồi được), sự thay đổi môi trường xã hội (kết cấu văn hóa, kết cấu xã hội biến đổi trong thời gian quá ngắn) dễ tạo ra những xung đột; sự tự tin thái quá của các tầng lớp dẫn dắt đến thành công, tâm lý đòi tưởng thưởng công trạng biểu hiện ở nhu cầu hưởng thụ sớm.
Giáo sư Trịnh Vĩnh Niên cho rằng, muốn thoát khỏi "bẫy thu nhập trung bình", rất đơn giản, Trung Quốc phải đi sâu cải cách kinh tế, thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững. Trên thực tế, nếu không thể giải quyết vấn đề dân sinh, cái gọi là đi sâu cải cách kinh tế chỉ là dừng lại ở mức độ nói suông mà thôi. Người dân sớm nhận thấy rằng, mô hình phát triển kinh tế truyền thống đã đến đỉnh điểm, cần phải chuyển đổi, tìm kiếm điểm tăng trưởng kinh tế mới, đó chính là xây dựng xã hội tiêu dùng.
Nhưng trong tình hình hiện nay, xã hội tiêu dùng tuyệt nhiên không có cơ sở. Một là, thiếu hụt chính sách xã hội, gồm chính sách bảo đảm xã hội, y tế, giáo dục và nhà ở. Trong bối cảnh không có sự giúp đỡ từ xã hội, cho dù người dân có chút tích lũy cũng không dám chi tiêu. Hai là, người dân nhận được quá ít từ lao động, thu nhập không cao. Rất rõ ràng, phương pháp trực tiếp nhất để xây dựng xã hội tiêu dùng chính là tiếp tục nâng cao mức sống của nhân dân, cải thiện dân sinh.
Theo Giáo sư Trịnh Vĩnh Niên, nếu vấn đề dân sinh không được giải quyết, trong tương lai gần Trung Quốc sẽ phải đối mặt với rủi ro cấp tiến hóa xã hội. Người dân hy vọng vào sự ổn định xã hội lâu dài, không có ổn định sẽ không có phát triển. Nhưng nếu phát triển không giải quyết được vấn đề dân sinh, xã hội sẽ cấp tiến hóa. Những gì xảy ra ở châu Á sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 và gần đây là ở thế giới Arab đều cho thấy tầm quan trọng của vấn đề dân sinh đối với xã hội, thậm chí là đối với sự ổn định xã hội.
Xem xét từ góc độ kinh nghiệm lịch sử thế giới của việc giải quyết vấn đề dân sinh, Trung Quốc rõ ràng đã bước vào thời kỳ của cơ hội chiến lược. Muốn giải quyết vấn đề dân sinh, Trung Quốc phải giải quyết một vấn đề hiện thực, đó là vấn đề tài lực quốc gia. Không có tài lực, không thể làm gì. Cho nên, việc giải quyết vấn đề dân sinh của một quốc gia thường diễn ra trong giai đoạn nước đó có sự phát triển đi lên về kinh tế trong thời gian tương đối dài và chính quyền hoặc xã hội đã tích lũy được của cải tương đối.
Một khi tăng trưởng kinh tế của quốc gia đó chậm lại, tài lực bị suy thoái, vấn đề dân sinh sẽ không thể giải quyết được. Trung Quốc hiện đang trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế tốc độ cao và chính quyền đã tích lũy được một lượng của cải lớn. Do đó, từ 5 - 10 năm tới, đương nhiên trở thành thời kỳ của cơ hội chiến lược cho việc giải quyết vấn đề dân sinh của Trung Quốc.
Trên thực tế, gần đây Trung Quốc cũng đã có hành động thiết thực trong vấn đề dân sinh. Các bên liên quan cũng đã bày tỏ phải động viên tài lực cho đất nước, tập trung hoàn thành các nhiệm vụ trọng điểm về dân sinh. Đây là dấu hiệu rất tốt, thống nhất với cách đề cập rằng phải tìm kiếm đột phá khẩu của cải cách được nhấn mạnh trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm lần thứ 12 (2011 - 2015).
Cụ thể, trong kế hoạch này, Trung Quốc đặt mục tiêu tăng trưởng GDP hằng năm là 7% và tăng thu nhập đầu người hằng năm là hơn 7%. Theo Giáo sư kinh tế Chu Thiên Dũng thuộc trường Đảng của Đảng Cộng sản Trung Quốc, “đây là lần đầu tiên Trung Quốc đặt mục tiêu giữ cho tăng trưởng thu nhập hàng năm theo kịp với tăng trưởng GDP để tất cả mọi người đều được hưởng lợi từ phát triển kinh tế”.
Nghĩ ra và thực hiện các ý tưởng sáng tạo là nguồn lực để phát triển xã hội, nên phải phát triển con người bằng việc đầu tư vào giáo dục, nghiên cứu cả khoa học cơ bản và ứng dụng, y tế cộng đồng và quan trọng là tạo ra một tinh thần sáng tạo trong dân chúng.
Những cải tiến nhỏ bé trong công việc hàng ngày từ nội trợ cho đến quản lý công ty hay lãnh đạo quốc gia có thể làm nên những hiệu quả to lớn. Đọc bài viết xong, tôi đang nghĩ đến làm sao mình thoát ra khỏi bẫy thu nhập trung bình cá nhân.
Nói chung là không nên coi nhẹ Trung Quốc vì họ có ý thức tự cường phát triển khoa học tốt, nội lực cũng khá, lãnh đạo quyết tâm cao.
Chỉ khác các nước tư bản ở chỗ, không có vài chục năm làm thực dân bóc lột thuộc địa, không đầu cơ vũ khí chiến tranh nên cũng khó giàu nhanh, bước đường trở thành nước thu nhập cao sẽ phải khó khăn hơn nhiều.
TQ hiện nay đúng là có hiện tượng “sập bẫy” thu nhập trung bình.
Dù cho khoa học của TQ có phát triển bằng với TG thậm chí vượt lên trước mà sáng tạo khoa học chỉ loanh quanh trong khu vực các học viện và công ty to, không phát triển ra toàn xã hội thì chi phí cho sự sáng tạo ấy là rất tốn kém và thời gian là rất chậm chạp.
Nghiên cứu khoa học dựa vào tài trợ của Nhà nước là có tính ngẫu hứng không thể hiệu quả bằng nghiên cứu khoa học ngoài xã hội do các doanh nghiệp tài trợ vì các mục tiêu kinh tế khác nhau.
Để phát triển nghiên cứu khoa học (động lực chính của kinh tế tri thức) ra toàn xã hội thì kiến thức, kỹ năng nghiên cứu phải được phổ cập tới mọi người dân. Chính vì thế, giáo dục phương Tây coi trọng kỹ năng hơn lý thuyết.
Kỹ năng luôn đi kèm với lý thuyết. Lý thuyết mà không có kỹ năng đi kèm thì lý thuyết ấy là loại “học cho biết, biết chỉ để biết chớ chả dùng được vào việc gì”. Điều này tương tự như các nho sinh thời xưa học Tứ Thư Ngũ Kinh (chuyên về văn thơ đạo đức lời hay ý đẹp) đi thi đậu xong ra làm quan, tức là học 1 đằng làm 1 nẻo.
Trong khi đó, sáng tạo khoa học ở Mỹ khá phổ biến, bất cứ ai có ý tưởng gì “hay ho mới lạ” đều có thể tìm được những “đồng chí” cùng phát triển ý tưởng ấy thành 1 giá trị nào đó cụ thể và kinh doanh chính giá trị ấy. Hàng ngày hàng giờ, nước Mỹ luôn tạo ra những công ty nhỏ, thậm chí là siêu nhỏ, nhưng ý tưởng công nghệ thì không nhỏ.
Chính những công ty này, nếu thành công trong việc phát triển ý tưởng sáng tạo, chỉ trong thời gian rất ngắn đã vươn lên tầm cỡ toàn cầu. Những công ty này luôn tìm được cái mà nó cần trong quá trình phát triển.
Nhân lực ư? Không thành vấn đề. Mỹ không có thì quảng cáo ra cả TG mà tìm người. Vốn ư? Chuyện nhỏ, lúc nào mà chả có các quỹ đầu tư mạo hiểm luôn săn lùng những ý tưởng kinh doanh mới lạ, mình chưa kịp tìm đến họ là họ đã tìm đến mình rồi. Phương tiện máy móc thiết bị? Đầy những công ty công nghệ sẵn sàng nhận bất cứ đơn đặt hàng nào, chế tạo ra đủ thứ máy móc mà mình cần thậm chí những máy móc ấy chỉ để đáp ứng nhu cầu của riêng mình thôi.
TQ liệu có khả năng đạt đến “nền tảng” ấy hay không? Chắc chắn là không khi tư duy “sản xuất hàng loạt, lấy số lượng bù chi phí” còn tồn tại. Tư duy đầu tư của người Mỹ là tư duy đầu tư mạo hiểm, tức là rủi ro cao, khả năng thất bại cao nhưng khi thành công thì lợi nhuận là ngoài sự mong đợi.
1 công ty siêu nhỏ chỉ có 2 người là Bill Gates và bạn của anh ta với số vốn ban đầu là… 500 đô la sau 10 năm trở thành 1 công ty toàn cầu với doanh thu hàng trăm tỷ đô la. Nếu kinh doanh theo đường lối thông thường thì mất bao lâu mới đạt đến tầm cỡ đó?
Những công ty như thế vẫn hàng ngày hàng giờ được thành lập mới sẵn sàng cạnh tranh với những “người khổng lồ” đi trước vì lợi thế cạnh tranh là vốn, là nhân lực, là công nghệ thiết bị không còn nữa, lợi thế bây giờ chính là ý tưởng sáng tạo.
Đã gọi là ý tưởng sáng tạo thì không phân biệt công ty to công ty nhỏ. Công ty to là cái bộ máy của nó to chớ những người có khả năng sáng tạo cũng chả nhiều hơn công ty nhỏ bao nhiêu. TQ có lợi thế là vốn dự trữ lớn tới hàng nghìn tỷ đô nhưng thiếu cái “nền tảng” trên nên vốn vẫn tiếp tục tích tụ và tích tụ chớ không thoát đi đâu được. Đó chính là sự bế tắc, bế tắc về khả năng sử dụng vốn.
Nước Mỹ lại ngược lại. Nền tảng trên phát triển quá nhanh khiến cho cả nền kinh tế thiếu vốn trầm trọng. Cứ tưởng tượng 10 dự án mạo hiểm chỉ có 1 dự án thành công, thực tế là còn thấp hơn nhiều, sao mà không thiếu vốn được. 40% tài chính của TG bị hút về Mỹ nên Mỹ khủng hoảng tài chính là cả TG lãnh đủ.
Để phát triển cái nền tảng ấy, khoa học xã hội phải đi trước tạo điều kiện phát triển nguồn nhân lực. Khoa học xã hội là thứ không tốn nhiều tiền mà tốn thời gian vì… tranh cãi nhiều. Đó là luật pháp, là giáo dục, là y tế, là an sinh xã hội, là dịch vụ công,… Đó cũng chính là cái bẫy mà không phải chỉ có những nước có thu nhập trung bình mới vướng phải mà cả những nước có thu nhập cao cũng “dính”.
Tuy nhiên, vì đại đa số các quốc gia trên TG đều có thu nhập trung bình (1000 đến 10 nghìn đô/người/năm) nên người ta gọi là bẫy thu nhập trung bình.
Nói nôm na, cái bẫy ấy là sự thiếu động lực để phát triển kinh tế.
TQ là nước lớn nên có nhiều thuận lợi hơn những nước lôm côm ĐNA. Họ có những tiếng nói ảnh hưởng đến chính sách tài chính, an ninh, môi trường của toàn cầu. Tuy nhiên, nước lớn quá cũng có bất lợi: gần như không thể xây dựng được một xã hội công bằng cho toàn dân.
Vì dân số quá lớn nên TQ sẽ mất thời gian rất dài để trở thành nước phát triển. Tuy nhiên tôi không nghĩ TQ bị vướng bởi bẫy thu nhập trung bình bởi vì hiện nay TQ rất chú trọng đến nghiên cứu phát triển.
Hiện tại, lương bổng của nhà khoa học TQ rất cao, tương đương với phương Tây và họ cũng không phân biệt "nội, ngoại" như nước ta.
Nếu TQ sập bẫy thì nguyên nhân là do sự trì trệ và khan hiếm tài nguyên của toàn cầu, chứ không do bản thân người TQ.
05/05 Các nền kinh tế châu Á: Khó khăn trong quản lý và sử dụng vốn
3 tỷ người châu Á sẽ sống sung túc
Tại hội thảo, ADB đã công bố tổng quan dự thảo báo cáo “Châu Á 2050 - Xây dựng một thế kỷ châu Á”. Báo cáo hoàn chỉnh dự kiến sẽ được xuất bản vào tháng 8/2011 sau khi được thảo luận tại hội nghị lần này. Dự thảo báo cáo cho biết trọng tâm của nền kinh tế toàn cầu sẽ chuyển sang châu Á, với 2 kịch bản: Thế kỷ của châu Á và bẫy thu nhập trung bình.
- Ảnh bên : Hầm chui đường Nguyễn Hữu Cảnh tại TPHCM (Ảnh: Thái Băng)
Chủ tịch ADB Haruhiko Kuroda nhận định: Hai kết quả dự kiến ở 2 kịch bản là khác nhau và vì vậy chi phí cơ hội nếu không thực hiện kịch bản một thế kỷ châu Á là rất lớn, đặc biệt trên khía cạnh con người. Theo kịch bản một thế kỷ châu Á của ADB, sẽ có thêm 3 tỷ người châu Á có thể tận hưởng thành quả của sự thịnh vượng ít nhất cũng sớm hơn một thế hệ so với kịch bản “bẫy thu nhập trung bình”.
Bản dự thảo cũng đề ra 6 động lực chuyển đổi tại khu vực: sự tiến bộ kỹ thuật, tích lũy vốn, nhân khẩu học và lực lượng lao động, sự gia tăng tầng lớp trung lưu, giảm thiểu biến đổi khí hậu và cuộc cách mạng thông tin.
Cần hàng ngàn tỷ USD vốn đầu tư
Thảo luận các vấn đề chung, Bộ trưởng Bộ Tài chính Bangladesh Abul Maal Abul Muhith cho rằng, 30 năm qua châu Á đã có bước phát triển tuyệt vời với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, đầu tư của khu vực tư nhân phát triển mạnh. Tuy nhiên, đằng sau những thành tựu này là những sự trả giá không nhỏ: bất bình đẳng xã hội, tham nhũng gia tăng...
Theo dự báo của ADB, nhu cầu vốn phát triển mỗi năm cho khu vực châu Á trong giai đoạn từ nay đến 2050 có thể lên tới hàng ngàn tỷ USD. Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất của các quốc gia châu Á không phải là thu hút vốn mà nằm ở việc quản lý và sử dụng số tiền nói trên sao cho hiệu quả.
Theo Bộ trưởng Tài chính Ấn Độ Pranab Mukherjee, mấu chốt để giải quyết vấn đề này là các chính phủ phải xác định đâu là lĩnh vực đầu tư có hiệu quả nhất để sử dụng vốn. Trong điều kiện của châu Á, các lĩnh vực này bao gồm nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng.
Bên cạnh đó, để phát triển bền vững, các quốc gia châu Á cần đầu tư mạnh cho kinh tế tri thức. Phát biểu kết thúc phiên thảo luận, Chủ tịch ADB Haruhiko Kuroda nhấn mạnh việc nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng vốn sẽ giúp các nước tránh được “bẫy thu nhập trung bình”.
Trao đổi với báo chí sau hội thảo, ông Rajat Nag, Giám đốc điều hành ADB, cho biết nhiều vấn đề mà dự thảo báo cáo “Châu Á năm 2050 – Xây dựng một thế kỷ châu Á” đã được các đại biểu tham dự hội thảo làm rõ như thúc đẩy công nghệ, hợp tác công tư, cân bằng hệ thống tài chính, xây dựng lòng tin về dân chủ, quản lý đô thị và vượt qua bẫy thu nhập trung bình…
“Nước nào muốn vượt qua bẫy thu nhập phải có khả năng sáng tạo và nâng cao năng suất lao động. Lợi thế về nguồn lao động dồi dào không thể phát huy tác dụng nếu các nước không đào tạo một đội ngũ nhân lực có kỹ năng tốt” – ông Nag nói.
05/05 Standard Chartered: Hãy coi việc kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm lại là điều hiển nhiên
Châu Á cần chuẩn bị sẵn sàng cho khả năng kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm lại.
Một số chuyên gia kinh tế hàng đầu cảnh báo các nền kinh tế tại châu Á cần đưa ra các biện pháp khẩn cấp để tự bảo vệ trước tác động từ việc tăng trưởng kinh tế Trung Quốc chững lại.
Dù kinh tế Trung Quốc tăng trưởng 10,3% trong năm 2010 và 9,7% trong quý 1/2011, nhìn chung các chuyên gia kinh tế đều dự đoán tăng trưởng tại nền kinh tế lớn thứ 2 trên thế giới sẽ sụt giảm trong khoảng thời gian 5 năm tới.
Các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc đã áp dụng biện pháp thắt chặt chính sách tài khóa và tiền tệ trong năm qua. Các biện pháp đang phát huy tác dụng làm chậm đà tăng trưởng kinh tế. Chính phủ Trung Quốc hiện đặt kiềm chế lạm phát làm mục tiêu hàng đầu.
Trong hội nghị thường niên của ADB tại Hà Nội, ông Li Yong, Thứ trưởng Tài chính Trung Quốc nói: “Chúng tôi tập trung vào tăng trưởng kinh tế nhưng cũng quan tâm đến việc người dân phải được hưởng lợi từ tăng trưởng đó.”
Phát biểu với báo giới, ông Yasheng Huang giáo sư tại MIT, chỉ ra: “Chính Chính phủ Trung Quốc đang định hướng nền kinh tế tăng trưởng chậm lại, vì thế khả năng tăng trưởng không cao như trước có thể dự đoán được.”
Tại hội nghị, các đại biểu tranh luận nhiều về việc liệu việc tăng trưởng kinh tế Trung Quốc giảm sẽ diễn ra từ từ hay Trung Quốc sẽ khó “hạ cánh an toàn”. Thực tế đã cho thấy mô hình tăng trưởng kinh tế dựa vào đầu tư không thể bền vững và tiêu dùng sẽ không tăng trưởng đủ mạnh để bù lại.
Phần lớn các chuyên gia kinh tế thừa nhận rằng việc tính toán được chính xác quy mô hay thời điểm kinh tế Trung Quốc chững lại, thế nhưng ảnh hưởng của việc này lên kinh tế khu vực sẽ rất lớn.
Ông Barry Eichengreen, giáo sư kinh tế, chính trị tại đại học University of California, nói: “Việc quyết định được chính xác thời điểm kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chững lại và mức độ như thế nào quá sức của khoa học kinh tế. Thế nhưng không cần bàn cãi gì thêm về hướng thay đổi và chắc chắn nó sẽ tạo ra ảnh hưởng sâu sắc lên châu Á và thế giới.”
Sự chững lại của kinh tế Trung Quốc tác động mạnh đến thế giới xét trên phương diện Trung Quốc là đối tác thương mại và nguồn cầu hàng hóa lớn trên thế giới.
Định hướng phát triển cân bằng hơn của Trung Quốc có lợi cho nhóm nước sản xuất thu nhập thấp như Việt Nam hay Bangladesh.
Ông Gerard Lyons, chuyên gia kinh tế trưởng tại Standard Chartered, nói: “Bài học quan trọng đối với khu vực chính là: người ta không nên ngạc nhiên nếu kinh tế Trung Quốc có chững lại ở giai đoạn nào đó. Thay cho việc ngạc nhiên, người ta nên coi nó như điều hiển nhiên.”
Ngọc Diệp – Cao Sơn
06/05 Nhật không can thiệp chặn đà tăng giá đồng yen
06/05/2011 | 15:52:00
Bộ trưởng Noda cho rằng những biến động tiền tệ mới này khác hẳn so với những diễn biến trên thị trường tiền tệ gần một tuần sau thảm họa động đất và sóng thần ngày 11/3 khi đồng USD mất giá mạnh so với yen vào ngày 17/3.
Sự giảm giá của đồng USD hôm 5/5 phản ánh sự suy yếu gần đây của đồng tiền này và tình trạng giao dịch ít trên thị trường Tokyo trong dịp nghỉ lễ.
Về câu hỏi liệu các cơ quan chức năng có can thiệp vào thị trường tiền tệ để chặn đà tăng giá của đồng yen hay không, Bộ trưởng Noda nói rằng ông “sẽ không trả lời một câu hỏi mang tính giả thuyết.” Điều này được hiểu là Nhật Bản có thể sẽ không can thiệp vào thị trường tiền tệ để chặn đà tăng giá của đồng yen.
Trong khi đó, ngày 6/5, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) thông báo lượng tiền cơ sở của nước này đã tăng lên mức kỷ lục hơn 121.000 tỷ yen (khoảng 1.500 tỷ USD) vào tháng 4 sau nhiều đợt bơm tiền kể từ sau thảm họa động đất ngày 11/3.
Số dư tiền cơ sở bình quân/ngày (gồm tiền mặt trong lưu thông và cán cân tiền gửi tài khoản vãng lai do các tổ chức tài chính gửi tại BOJ) đã tăng 23,9% lên 121.890 tỷ yen, mức cao nhất kể từ khi cơ quan này bắt đầu thống kê số dư tiền cơ sở vào tháng 1/1970 và là tháng tăng thứ 32 liên tiếp.
Cụ thể, số dư tiền gửi tài khoản vãng lai đã tăng hơn gấp đôi lên mức 37.400 tỷ yen. Lượng tiền mặt trong lưu thông tăng 3,7% lên 79.980 tỷ yen, trong khi lượng tiền xu trong lưu thông tăng 0,1% lên 4.510 tỷ yen.
Gần đây, BOJ đã bơm một lượng tiền kỷ lục vào hệ thống ngân hàng trong bối cảnh có những quan ngại rằng các tổ chức tín dụng thương mại, nhất là những tổ chức hoạt động ở khu vực Đông Bắc, có thể gặp khó khăn về khả năng thanh khoản./.
05/05 Vốn ADB nên tập trung vào nước nghèo, người nghèo
05/05/2011 | 19:51:00
Ông Shinohara cho rằng, Việt Nam nên quan tâm hơn tới dòng vốn đầu tư ra bên ngoài hơn là những dòng vốn từ nước ngoài vào Việt Nam.
Theo Chủ tịch ADB Kuroda, Chính phủ VN đã hỗ trợ tuyệt vời trong việc tổ chức thành công Hội nghị 44 và người dân Hà Nội rất hiếu khách.
Hầu hết các quốc gia tham dự phiên họp này đều cho rằng, các nước châu Á đã trải qua vượt qua được khủng hoảng kinh tế và đang trong giai đoạn phục hồi mạnh mẽ. Thống đốc Ngân hang Trung ương Indonexia bày tỏ: “Khi chúng ta nhóm họp vào năm ngoái chúng ta đã lo lắng về khả năng suy thoái kép nhưng vấn đề này không xảy ra.”
“Kinh tế châu Á phục hồi nhanh hơn ở châu Âu, có thể thấy rõ rằng thời gian qua nước Đức đã nhập khẩu ngày càng nhiều hơn từ châu Á. Thương mại của Đức với Việt Nam và Trung Quốc đã tăng 15% trong năm qua,” Thống đốc Ngân hàng Trung ương Đức nhận định.
Hầu hết các quốc gia đều đánh giá cao vai trò của ADB trong việc giúp các quốc gia thành viên chống chọi với cuộc khủng hoảng kinh tế. Thống đốc Ngân hàng Trung ương Trung Quốc cho rằng, vai trò của ADB ngày càng quan trọng hơn, do đó ADB nên huy động thêm các nguồn lực tài chính, trong đó có cả nguồn lực tư nhân để thúc đẩy thêm các nguồn lực xã hội, tạo nguồn vốn dồi dào hỗ trợ các nước đang phát triển phục hồi kinh tế và xóa đói giảm nghèo.
Các quốc gia tham dự Hội nghị đều cho rằng, sự phục hồi kinh tế ở châu Á không bền vững và đang chịu nhiều sức ép như: lạm phát, biến đổi khí hậu, lãng phí năng lượng, thiên tai… Do đó, trong thời gian tới, nguồn vốn của ADB cần tập trung cho các dự án giúp các quốc gia củng cố sự phát triển bền vững.
Thống đốc Ngân hàng Trung ương Đức cho rằng, sự phát triển thiếu bền vững đã khiến tiềm năng phát triển của các nước châu Á bị ảnh hưởng và làm giảm đi thành quả của công cuộc xóa đói giảm nghèo. Do đó, trong thời gian tới, nguồn vốn nên hướng vào khu vực nông thôn.
“Đóng góp của ADB vào sự phát triển của châu Á ngày càng tăng nên chúng ta đang chứng kiến một xu hưỡng rõ nét là ngày càng nhiều các quốc gia mong muốn được vay vốn từ ADB. Vì vậy, chúng ta cần giám sát về các khoản vay và giải ngân từ ADB để đảm bảo nguồn vốn này ngày càng hiệu quả hơn,” Thống đốc Ngân hàng Trung ương Đức khuyến nghị.
Đồng tình với quan điểm này, Trợ lý Bộ trưởng Tài chính và phụ trách thị trường Quốc tế của Hoa Kỳ bày tỏ: “Chúng tôi đã khuyến khích ADB cho vay 17 tỷ USD thay vì 10 tỷ USD như dự định, nhưng cần duy trì mức cho vay bền vững, tạo thêm nguồn lực cho các quốc gia đang phát triển. Hy vọng là ADB sẽ có cơ chế cho vay thích hợp để các quốc gia này được phục vụ tối đa cho nhu cầu phát triển của mình.”
Các Thống đốc Ngân hàng Trung ương Ấn Độ, Nepan, Pakistan… đều bày tỏ mong muốn được ADB hỗ trợ trong các lĩnh vực hạn chế thiên tai, phát triển khu vực tư nhân, bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu.
Thống đốc Ngân hàng Indonexia cho biết: “Mặc dù biến đổi khí hậu cần quan tâm để hạn chế thiệt hại nhưng chúng tôi chưa đủ tiền để đầu tư mạnh vào lĩnh vực này, chúng tôi mong muốn ADB đóng góp nhiều hơn cho các tổ chức năng lượng xanh.”
Thống đốc Ngân hàng Ấn Độ nhận định, ADB nên có chính hỗ trợ các nước thành viên hạn chế thiên tai và chống biến đổi khí hậu. Để làm được điều này, ADB cần có cơ chế hợp tác cứng và mềm về thể chế và thông tin.
Muốn vậy, cần phải loại bỏ hàng rào đối với các nước đang phát triển, chẳng hạn như chính phủ Nhật Bản cần có chính sách phi quota, phi thuế …
Trợ lý Bộ trưởng Tài chính và phụ trách thị trường quốc tế Hoa Kỳ khẳng định: “Chúng tôi rất khuyến khích các sáng kiến của ADB trong việc hợp tác song phương, đa phương. ADB hợp tác với cộng đồng ngân hàng và các quốc gia thành viên. Chúng tôi đảm bảo rằng ADB là nơi xứng đáng để nhận được đầu tư của các quốc gia thành viên.”

