Showing posts with label doanhnhan. Show all posts
Showing posts with label doanhnhan. Show all posts

15 nhân vật góp phần thay đổi kinh tế Trung Quốc


HỒNG NGỌC
13/01/2012 10:35 (GMT+7)
pictureHenry Chow là người đã góp phần đặt nền móng cho Tập đoàn IBM (Mỹ) tại Trung Quốc - Ảnh: Fortune.

Trong 15 năm qua, Trung Quốc đã có những thay đổi vượt bậc, trở thành một trong những nền kinh tế lớn nhất thế giới. Đóng góp vào sự thành công đó có không ít doanh nhân, nhà quản lý, chuyên gia kinh tế hàng đầu.


15/06 S&P: Tài chính Hy Lạp chỉ cách mức vỡ nợ 4 bậc

Thứ Tư, 15-06-2011 - 10:54 SA Theo Diễn đàn doanh nghiệp

Ngày 13/6, Standard and Poor's (S&P) đã hạ ba bậc xếp hạng trái phiếu dài hạn của Hy Lạp từ B xuống CCC, tức chỉ còn cách mức vỡ nợ bốn bậc, vì cho rằng nguy cơ phá sản của nước thành viên đang ngập trong nợ nần của khu vực đồng euro (Eurozone) này đang gia tăng đáng kể.

Trong khi đó, S&P vẫn giữ nguyên triển vọng trái phiếu dài hạn của Hy Lạp ở mức tiêu cực, nghĩa là tổ chức này có thể sẽ tiếp tục đưa ra một quyết định giáng cấp nữa trong vòng từ 12 đến 18 tháng tới.

S&P cho rằng những rủi ro đối với quá trình triển khai chương trình vay nợ từ Liên minh châu Âu (EU) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) của Hy Lạp đang ngày càng lớn do sự gia tăng trong nhu cầu vốn của nước này, cũng như những bất đồng chính trị ở trong nước xung quanh những điều kiện mà các thể chế quốc tế buộc Hy Lạp phải chấp nhận để đổi lấy gói cứu trợ.

Theo S&P, ngày càng có nhiều khả năng các nhà hoạch định chính sách của châu Âu sẽ thực hiện chương trình tái cơ cấu nợ của Hy Lạp, thông qua một chương trình hoán đổi trái phiếu hoặc bằng cách gia hạn thời hạn thanh toán trái phiếu. Nhưng dựa trên các tiêu chuẩn của S&P, bất kỳ quyết định nào cũng bị coi là sự vỡ nợ trên thực tế.

Với quyết định trên, Hy Lạp trở thành nước đứng dưới cùng trong bảng xếp hạng tín dụng của S&P. Trước đó, ngày 1/6, Moody's cũng hạ xếp hạng trái phiếu của Hy Lạp xuống Caa1. Trong bối cảnh như vậy, ngày 13/6, lãi suất trái phiếu kỳ hạn 10 năm của Hy Lạp đã tăng hơn 17% lần thứ hai trong năm nay, trước khi đóng cửa ở mức 16,97%.

Phản ứng trước quyết định này, Bộ Tài chính Hy Lạp cho rằng S&P đã làm ngơ trước những nỗ lực cải cách của Chính phủ, nhằm ngăn chặn những vấn đề xảy ra trong quá trình Hy Lạp thực hiện các nghĩa vụ đã hứa để được nhận hỗ trợ của EU và IMF, tức là liên quan tới những lo ngại Athens sẽ không thể hoàn trả được các khoản nợ; cũng như không tính đến các cuộc đàm phán của Liên minh châu Âu (EU) để tìm kiếm một giải pháp bền vững để tài trợ cho những nhu cầu thanh toán của Hy Lạp.

Quyết định của S&P được đưa ra trong bối cảnh các bộ trưởng tài chính châu Âu đang chuẩn bị nhóm họp để thảo luận về việc trao cho Hy Lạp một gói cứu trợ mới, với khả năng sẽ kêu gọi các nhà đầu tư tư nhân sở hữu trái phiếu của Hy Lạp đóng góp vào việc đẩy lùi nguy cơ vỡ nợ bằng cách chấp nhận lùi thời hạn thanh toán.

06/06 Goldman Sachs: Thủ phạm chính gây ra khủng hoảng kinh tế toàn cầu?



Thứ Hai, 6-06-2011 - 10:29 SATheo tamnhin

Các bên nguyên tại New York đã yêu cầu Goldman Sachs Group Inc giải trình về những hoạt động trước khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu xảy ra.

Đây là vụ điều tra mới nhất đang gây ảnh hưởng đến danh tiếng của ngân hàng đầu tư lớn nhất nước Mỹ.

Goldman Sachs đang đối mặt với cuộc điều tra của các nhà chức trách về những giao dịch phái sinh mà ngân hàng này đã tiến hành vào cuối năm 2006 và 2007.

Ngày 2/6, các nguồn thạo tin cho biết, Goldman đã nhận được trát đòi hầu tòa từ luật sư quận Manhattan, Cyrus Vance, người cùng với Bộ Tư pháp và Ủy ban Hối đoái và Chứng khoán có trách nhiệm điều tra về những hoạt động của ngân hàng này. Trong khi đó, chưởng lý New York, Eric Schneiderman, đang tiến hành điều tra Goldman trong vụ việc lớn hơn về hoạt động thế chấp và chứng khoán hóa của 7 ngân hàng. Theo các nguồn thạo tin, văn phòng của ông Schneiderman đã gặp các luật sư và quan chức Goldman trong hai tuần qua.

Các cuộc điều tra được tiến hành sau khi báo cáo của một tiểu ban trong Thượng viện, do nghị sỹ đảng Dân chủ Carl Levin đứng đầu, đã chỉ đích danh Goldman là thủ phạm chính gây ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vừa qua và cáo buộc ngân hàng này gây hiểu nhầm cho các khách hàng về các chứng khoán liên quan đến thế chấp. Báo cáo cho rằng Goldman đã trút gánh nặng của phần lớn số chứng khoán liên quan đến thế chấp dưới chuẩn sang cho khách hàng, khi thị trường của những chứng khoán như vậy đang bắt đầu bão hòa. Trong một số trường hợp, ngân hàng này hành động một cách chậm chạp khi khách hàng muốn bán số chứng khoán bị lỗ.

Các nhà chức trách tiến hành các cuộc điều tra không nói tới việc Goldman hay các quan chức cấp cao của ngân hàng này sẽ đối mặt với các trách nhiệm hình sự hay dân sự, song nhắc tới việc các bên nguyên đang thu thập chứng cứ để phát đơn kiện Goldman. Theo luật sư Peter Berlin đại diện cho các bị đơn trong các vụ kiện tương tự, bên nguyên có quyền tìm kiếm các bằng chứng thể hiện sự gian dối và đòi trát hầu tòa đối với Goldman. Bộ Tư pháp Mỹ cũng có thể yêu cầu ngân hàng này phải ra hầu tòa.

Luật sư Vance muốn sử dụng Luật Martin đã được ban hành rộng rãi năm 1921 để thêm tình tiết tăng nặng mức phạt đối với các vụ gian lận chứng khoán. Cuộc điều tra của chưởng lý New York cũng đang được tiến hành theo những quy định trong đạo luật này.

Trong khi chưởng lý New York có thể đưa ra những cáo buộc hình sự hoặc dân sự đối với Goldman, luật sư quận Manhattan có thể chỉ tập trung vào những cáo buộc hình sự đối với ngân hàng này. Văn phòng luật sư quận Manhattan đã sử dụng Luật Martin để xử lý các vụ phạm tội trong giới trí thức như trong trường hợp của người đứng đầu công ty môi giới A.R. Baron & Co and ex-Tyco, Dennis Kozlowski.

Các cuộc điều tra nhằm vào Goldman và một số ngân hàng khác cho thấy sự quyết tâm của các cơ quan chính phủ trong việc điều tra hoạt động của các ngân hàng này trong những năm trước khi xảy ra khủng hoảng để xác định xem liệu có phải những hành vi lừa gạt của các quan chức ngân hàng đã khiến cuộc khủng hoảng trở nên tồi tệ hơn hay không. Một trong những vụ kiện lớn đầu tiên là vụ tố tụng dân sự của Ủy ban Hối đoái và Chứng khoán nhằm vào Goldman trong năm ngoái về việc ngân hàng này đã không tiết lộ thông tin liên quan đến các chứng khoán thế chấp phức tạp. Goldman đã dàn xếp xong vụ việc và không thừa nhận hành vi sai trái mà chỉ nói rằng lấy làm tiếc về điều này.

Theo nhà phân tích Brad Hintz ở Sanford Bernstein, ngay cả khi vụ kiện Goldman Sachs ít có khả năng thành công, sức ép từ chính giới và công luận sẽ khiến lòng tin của khách hàng đối với ngân hàng này giảm sút. Ông cho rằng tốt nhất Goldman nên sớm sửa sai đối với khách hàng để có thể lấy lại niềm tin nơi họ. Trong khi đó, một số nhà phân tích kỳ cựu lại cho rằng những lo lắng như vậy là thái quá.
Nguồn tin :  http://tamnhin.net/Quoc-te/11499/Goldman-Sachs-Thu-pham-chinh-gay-ra-khung-hoang-kinh-te-toan-cau.html
Từ khóa bài viết: kinh tế, khủng hoảng, kinh tế

22/05 Facebook “nhòm ngó” thị trường Trung Quốc

Chủ Nhật, 22-05-2011 - 06:41 CHTheo tamnhin

Mark Zuckerberg, CEO đồng thời cũng là người sáng lập mạng xã hội số 1 thế giới Facebook, đang lên kế hoạch cho chuyến thị sát thứ 2 tới Trung Quốc nhằm mở rộng tầm ảnh hưởng của Facebook lên đất nước đông dân nhất thế giới này.

Phát biểu tại một cuộc họp báo vào hôm qua, thứ Năm 20/05, Sheryl Sandberg – COO của Facebook cho biết “ nhiệm vụ của Facebook là rõ ràng, chúng tôi muốn kết nối với cả thế giới, điều đó sẽ không bao giờ thành hiện thực nếu không kết nối với Trung Quốc”.

Sandberg cũng cho rằng việc đưa Facebook lên sàn giao dịch là điều không tránh khỏi, tuy nhiên cô từ chối thời điểm IPO của Facebook.

Trả lời câu hỏi về việc LinkedIn, mạng xã hội cho các chuyên gia, sau khi lên sàn vào hôm thứ Năm, cổ phiếu đã tăng gấp đôi, Sandberg cho rằng “đó là sự đánh giá cao tiềm năng kinh doanh của mạng xã hội”.

Facebook được xây dựng năm 2004 tại một ký túc xá của đại học Harvard bởi Zuckerberg (lúc đó mới 20 tuổi), hiện tại Facebook đã là một trong những công ty Internet khổng lồ cạnh tranh với Google và Yahoo tại thị trường quảng cáo trên mạng.

Theo kết quả của công ty khảo sát ComScore,trong quý 1 năm 2011, Facebook chiếm 1/3 thị trường quảng cáo hiển thị trực tuyến tại Mỹ.

Từ khi Sandberg tham gia Facebook với vị trí COO vào tháng 3 năm 2008 để giám sát bán hàng, tiếp thị và phát triển kinh doanh, cô gái 41 tuổi, đã biến trang web thành một doanh nghiệp trị giá hàng tỷ đồng.

Trung Quốc là một thị trường hết sức béo bở với dân số lên đến 1,4 tỷ người. Tuy nhiên rất nhiều gã khổng lồ của Internet của thế giới thất bại trong việc mở rộng tầm ảnh hưởng ở đây do những chính sách kiểm duyệt nghiêm ngặt của chính phủ Trung Quốc. Một số đó như Ebay, Skype hay chính Google.

Tháng 12 năm ngoài, Zuckerberg đã đến thăm Trung Quốc và đã gặp gỡ với người đứng đầu của các công ty Internet Trung Quốc bao gồm Baidu Inc, Sina Corp và tập đoàn Alibaba

Hôm thứ tư, tám người dân New York đã kiện Baidu và chính phủ Trung Quốc, cáo buộc các công cụ tìm kiếm của kiểm duyệt bài phát biểu ủng hộ dân chủ.

Sandberg cho biết, chưa xác định thời điểm cụ thể, nhưng đó Zuckerberg, người đang nghiên cứu Trung Quốc, sẽ quay lại thăm Trung Quốc một lần nữa trong năm nay.


Theo công ty nghiên cứu thị trường eMarketer, Facebook là dự kiến sẽ tạo ra doanh thu khoảng 4 tỷ USD quảng cáo trong năm 2011, tăng từ $ 1,86 tỷ một năm trước đó.

Một số quan sát viên cho rằng Facebook cuối cùng có thể bắt đầu phục vụ quảng cáo trên các trang web của bên thứ ba, có thể sử dụng nút bấm “like” trên các trang web như là một phương tiện để quảng cáo.

Nguồn tin : http://tamnhin.net/thuongmaidientu/11111/Facebook-nhom-ngo-thi-truong-Trung-Quoc.html
Từ khóa bài viết: facebook, thị trường Trung quốc, mạng xã hội, Mark Zuckerberg

04/03 7 cuộc khủng hoảng giá dầu trong lịch sử

Thứ Sáu, 4-03-2011 - 09:01 SA Theo vnexpress

Dù tăng hay giảm giá, mỗi cuộc khủng hoảng dầu lửa trong 40 năm qua đều gắn liền với xung đột chính trị và suy thoái kinh tế, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới tình hình tài chính toàn cầu.

1. Khủng hoảng dầu lửa Trung Đông 1973 - 1975


Khủng hoảng dầu lửa 1973-1975 khiến giá tăng vụt và người mua phải xếp hàng dài.


Khủng hoảng dầu mỏ bắt đầu diễn ra từ ngày 17/10/1973 khi các nước thuộc Tổ chức Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) quyết định ngừng cung cấp nhiên liệu sang Mỹ, Nhật và Tây Âu, nhằm trừng phạt cho sự ủng hộ của nhóm này đối với Israel trong cuộc xung đột giữa Israel và liên quân Ai Cập - Syria. Lượng dầu bị cắt giảm tương đương với 7% sản lượng của cả thế giới thời kỳ đó. Sự kiện này đã khiến giá dầu thế giới tăng cao đột ngột và gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế 1973-1975 trên quy mô toàn cầu. Ngày 16/10/1973, giá dầu mỏ từ 3,01 USD nhảy lên 5,11USD một thùng, và tăng đến gần 12 USD vào giữa 1974.

Đây được xem là cơn khủng hoảng đáng nhớ nhất trong thời kỳ những năm 1970. Những ai từng trải qua "cơn khủng hoảng dầu Trung Đông" sẽ không thể nào quên cảnh hàng người dài dằng dặc chờ đợi trước các cây xăng bởi nguồn cung ứng thiếu hụt nghiêm trọng và giá cả tăng cao. Trong thời gian khủng hoảng, tại nhiều bang ở Mỹ mỗi người dân chỉ được phép mua một lượng nhiên liệu nhất định, giá đã tăng trung bình 86% chỉ trong vòng một năm từ 1973 đến 1974.

Thêm vào đó, một biến cố lớn nữa xảy đến với thị trường chứng khứng toàn cầu vào năm 1973 - 1974. Chỉ số FT30 của Sở giao dịch chứng khoán London bốc hơi 73% giá trị, khiến đôla Mỹ mất giá và làm cuộc khủng hoảng dầu lửa thêm tồi tệ. Thị trường chứng khoán Mỹ bốc hơi 97 tỷ đôla, số tiền khổng lồ thời điểm đó, chỉ sau một tháng rưỡi. Trong suốt cuộc khủng hoảng, tại Mỹ, GDP giảm 3,2%, tỷ lệ thất nghiệp chạm mức 9%. Suy thoái và lạm phát lan rộng gây ảnh hưởng tới kinh tế toàn cầu cho tới tận thập niên 1980.

2. Cách mạng Iran và biến động thị trường dầu lửa năm 1979

Cách mạng Iran đã gây ra cuộc khủng hoảng dầu lửa lớn thứ hai thế giới.


Cách mạng Hồi giáo Iran được mệnh danh cuộc cách mạng lớn thứ 3 trong lịch sử nhân loại, sau Cách mạng Pháp, Tháng Mười Nga, và đã gây ra cuộc khủng hoảng dầu lửa lớn thứ hai thế giới.

Vào đầu 1978, Iran xuất khẩu 5,4 triệu thùng dầu mỗi ngày, chiếm 17% tổng sản lượng của OPEC. Nhưng khi cách mạng Iran lật đổ chính quyền quân chủ của Shah, ngành công nghiệp vàng đen của nước này dưới chế độ mới đã giảm mạnh bởi sự tàn phá của các lực lượng đối lập. Trong nỗ lực kìm giá dầu, Ảrâp Xêút và các nước thuộc OPEC khác đã nhất loạt tăng sản lượng. Kết quả là lượng khai thác chỉ giảm 4% so với trước Cách mạng Hồi giáo Iran.

Tuy nhiên, giá dầu vẫn bốc lên ngất ngưởng do nỗi sợ hãi của thị trường, cộng thêm việc việc Tổng thống Mỹ Jimmy Carter ra lệnh ngừng nhập khẩu dầu từ Iran. Chỉ trong vòng 12 tháng, mỗi thùng dầu nhảy vọt từ 15,85 USD lên 39,5 USD.

Đây chính là tiền đề cho cuộc khủng hoảng kéo dài 30 tháng tại Mỹ. Giá năng lượng đi lên kéo theo lạm phát gia tăng, đạt đỉnh 13,5% trong năm 1980, buộc Cục Dự trữ Liên bang (FED) phải thực hiện hàng loạt chính sách thắt chặt tiền tệ.

Không chỉ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp cũng tăng một cách đáng lo ngại với từ mức 5,6% của tháng 5/1979 lên 7,5% một năm sau đó. Dù kinh tế bắt đầu hồi phục trong năm 1981, tỷ lệ thất nghiệp vẫn được duy trì ở mức cao 7,5% và đạt kỷ lục 10,8% vào 1982.

Hậu quả của suy thoái tồi tệ đến nỗi các ngành công nghiệp xe hơi, nhà đất, và sản xuất thép đều liên tục sụt giảm trong 10 năm sau, cho tới tận khi cuộc khủng hoảng giá dầu tiếp theo kết thúc.

3. Giá dầu tụt thê thảm vào những năm 1980

Kinh tế thế giới èo uột khiến giá dầu tụt thê thảm năm 1980.



Từ 1981 đến 1986, do tăng trưởng kinh tế chậm tại các nước công nghiệp (hậu quả của các cuộc khủng hoảng năm 1973 và 1979), nhu cầu tiêu thụ dầu trên toàn thế giới chậm lại. Ở các nước tiêu thụ dầu lớn như Mỹ, Nhật và châu Âu, nhu cầu nhiên liệu giảm 13% từ năm 1979 đến 1981. Hệ quả là giá dầu giảm mạnh từ 35 USD hồi 1981 xuống dưới 10 USD một thùng năm 1986.

Giá giảm đã làm lợi cho rất nhiều nước tiêu thụ lớn như Mỹ, Nhật, châu Âu và thế giới thứ 3, nhưng lại gây tổn thất nghiêm trọng cho các nước xuất khẩu dầu ở Bắc Âu, Liên Xô và khối OPEC. Nhiều công ty nhiên liệu của Mexico, Nigeria và Venezuela đến bên bờ vực phá sản. Dầu mất giá còn khiến khối OPEC mất đi sự đoàn kết.

4. Cơn sốt giá dầu năm 1990

Những giếng dầu bốc cháy trong cuộc chiến vùng Vịnh thời kỳ 1990, vốn là nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng giá nhiên liệu thời kỳ đó.


Giá dầu thế giới một lần nữa tăng vọt 13% vào tháng 8/1990 vì cuộc chiến tranh vùng Vịnh giữa Iraq và liên quân hơn 30 quốc gia do Mỹ lãnh đạo để giải phóng Kuwait.

Sau cuộc chiến, Liên Hợp Quốc áp dụng lệnh cấm xuất khẩu dầu toàn phần đối với Iraq và Kuwait. Chính lệnh cấm vận này đã lấy đi của thị trường dầu mỏ thế giới gần 5 triệu thùng mỗi ngày, khiến giá tăng cao.

Cơn sốt lần này kéo dài trong 9 tháng và giá không vượt đỉnh các cuộc khủng hoảng trước (hồi 1973 và 1979 - 1980). Tại thời điểm đó, mỗi thùng dầu đắt gấp đôi chỉ trong vòng 2 tháng, từ 17 USD lên 36 USD mỗi thùng. Chỉ khi lực lượng Liên quân do Mỹ lãnh đạo đưa quân vào giải phóng Kuwait, tình trạng thiếu nguồn cung mới chấm dứt và giá bắt đầu hạ.

Khủng hoảng này phần nào là nguyên nhân dẫn tới cuộc suy thoái kinh tế ở Mỹ với sự sụp đổ của thị trường tín dụng. Một loạt cường quốc chịu nhiều ảnh hưởng gián tiếp như Canada, Australia, Nhật, hay Anh cũng bị cuốn vào vòng xoáy suy thoái.

5. Giá dầu xuống dốc năm 2001

Sau năm 2000, kinh tế toàn cầu giảm sút, đặc biệt là từ sau sự kiện khủng bố 11/9 tại Mỹ, giá dầu thế giới càng giảm mạnh hơn. Năm 2001 mỗi thùng dầu chỉ còn 20 USD một thùng, giảm 35% so với trước. Nhu cầu nhiên liệu giảm mạnh cũng góp phần vào sự giảm giá dầu.

6. Đợt khủng hoảng giá dầu nghiêm trọng năm 2007 - 2008

Khủng hoảng giá dầu năm 2007-2008 trước khi thế giới rơi vào cuộc suy thoái toàn cầu.


Năm 2007, giá dầu leo thang tiến gần 100 USD. Trong bối cảnh đồng USD mất giá nghiêm trọng, nhiều nước có dự trữ đôla Mỹ lớn và khối OPEC đã phải tính đến khả năng chuyển dần sang sử dụng loại ngoại tệ mạnh khác để tính giá dầu. Dầu đắt đỏ và nguy cơ cạn kiệt nguồn cung đã làm bùng lên cuộc tranh chấp giữa các cường quốc về chủ quyền đối với những giếng dầu lớn và đáy biển ở Bắc cực cũng như Nam cực.

Bong bóng nhà ở cùng với sự giám sát tài chính thiếu hoàn thiện của Mỹ đã dẫn tới cuộc khủng hoảng tài chính bùng phát vào giữa năm 2007. Sự đổ vỡ lên đến cực điểm vào tháng 10/2008, lan rộng và đẩy nền kinh thế giới vào cuộc khủng hoảng tài chính trầm trọng nhất kể từ cuộc Đại suy thoái 1929 - 1933. Tại thời điểm này, có lúc giá dầu lên đến mức kỷ lục 145 USD mỗi thùng.

7. Cú sốc dầu lửa 2011

Bạo loạn tại Libya, thành viên lớn thứ 9 trong khối OPEC khiến thị trường nhiên liệu đang trải qua đợt khủng hoảng giá mới.

Bạo loạn tại khu vực Trung Đông và Bắc Phi nói chung cùng những cuộc biểu tình ở Libya thời gian gần đây đang gây sóng gió trên thị trường nhiên liệu, với giá dầu lên mức trên 100 USD một thùng. Hiện tại, các nước châu Âu (ví dụ Italy, Iceland và Áo) phụ thuộc khá nhiều vào dầu mỏ đến từ Libya.

Giá dầu mỏ tăng cao đã và đang ảnh hưởng kinh doanh chứng khoán và vận tải. Giới phân tích tính toán nếu những cuộc bạo loạn hiện nay khiến cho giá dầu tăng thêm 40 đến 50 USD, và tình trạng này kéo dài 1 năm, thì tăng trưởng GDP toàn cầu sẽ mất khoảng 2%.


Từ khóa bài viết: giá dầu, kinh tế thế giới, thị trường dầu lửa

28/03 Lạm phát đang đe dọa châu Á

Thứ Hai, 28-03-2011 - 10:21 SA Theo doanhnhansaigon

Sức ép lạm phát ở châu Á hiện nay lớn hơn các khu vực khác bởi tăng trưởng của châu lục này đã vượt xa Mỹ và châu Âu. Lạm phát tại đây đang de dọa sự phục hồi kinh tế toàn cầu.


Tại Singapore, tỷ lệ lạm phát tháng một đã lên mức cao nhất trong 2 năm qua, ở mức 5,5% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 4,6% của tháng 12/2010. Tỷ lệ này cũng cao hơn nhiều so với dự báo của giới phân tích. Trong tháng 2, lạm phát của nước này có giảm nhẹ nhưng vẫn ở mức cao. Đây cũng là tình hình chung của các nước châu Á, đặc biệt với những nền kinh tế mới nổi.

Lạm phát của Singapore tăng lên là mặt trái của nền kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ, chủ yếu do sự gia tăng chi phí giao thông vận tải, thực phẩm, và giải trí. Chính phủ Singapore dự đoán CPI năm 2011 của nước này vào khoảng 3-4%.

Ở Trung Quốc, người dân đang phải đối mặt với bão giá và lạm phát. Trong tháng 1/2011, lạm phát của nước này tăng 4,9% (tháng 12/2010 là 4,6%), cao hơn mục tiêu của Chính phủ Trung Quốc đến tháng thứ 5 liên tiếp, trong đó giá thực phẩm tăng tới 10,3%. Giới phân tích nhận định, Trung Quốc sẽ phải đối đầu với lạm phát tăng cao hơn nữa trong những tháng tới bởi Chính phủ không thể tăng nhanh nguồn cung cấp thực phẩm. Đáng ngại hơn nữa khi giá xăng dầu tại Trung Quốc tăng do giá thế giới vẫn đi lên.

Các nhà đầu tư lo ngại rằng các biện pháp thắt chặt tiền tệ để kiềm chế lạm phát sẽ khiến kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm lại, ảnh hưởng đến đà phục hồi của kinh tế toàn cầu vốn chịu tác động bởi tăng trưởng kinh tế Mỹ còn yếu và khủng hoảng nợ công tại châu Âu. Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo mới đây đã tuyên bố kiềm chế lạm phát là mục tiêu quan trọng nhất của Chính phủ Trung Quốc trong năm nay. Ngoài việc nâng lãi suất cơ bản, Chính phủ Trung Quốc cũng đã yêu cầu các ngân hàng tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc.

Theo số liệu thống kê, tỷ lệ lạm phát ở Hàn Quốc tháng 2 đã tăng lên mức cao nhất trong 27 tháng qua. Chỉ số giá tiêu dùng của Hàn Quốc tháng 2 đã tăng lên mức 4,5% so với cùng kỳ năm ngoái và tăng 0,8% so với tháng một.

Trong thời gian tới, châu Á phải đối mặt với một thách thức lớn đó là kiềm chế tỷ lệ lạm phát đang tăng ngoài dự đoán, theo Alicia Garcia Herrero - Trưởng ban Kinh tế thuộc BBVA Research. Giới phân tích đang kỳ vọng, ngân hàng trung ương các nước sẽ thắt chặt chính sách tiền tệ hơn nữa.

Theo Moody's Analytics, lạm phát đang ngày càng trở nên đáng lo ngại ở cả 2 khía cạnh là áp lực nhu cầu và giá cả hàng hóa. Trong một số trường hợp, đặc biệt là ở các thị trường mới nổi, lạm phát chủ yếu do nhu cầu tăng mạnh từ việc nền kinh tế tăng trưởng quá nóng. Ở một số nước khác, lạm phát chủ yếu do những tác động bên ngoài như sự tăng lên của giá cả hàng hóa ngoại, đặc biệt là lương thực và năng lượng.

Mặc dù thắt chặt tiền tệ có thể đem lại hiệu quả trong việc chống lạm phát do tăng mạnh của nhu cầu nội địa, nhưng chính sách này lại không mấy tác động tới lạm phát nhập khẩu – điều mà hầu hết các nước, đặc biệt là những nền kinh tế mới nổi đang phải đối mặt. Khu vực duy nhất chính sách tiền tệ thặt chặt có thể tác động đến lạm phát toàn cầu là Mỹ và châu Âu, nhưng việc này là bất khả thi trong thời gian tới bởi mức nhu cầu tăng thấp tại đây.

“Nhìn chung, thế giới buộc phải sống chung với mức lạm phát tăng cao trong những năm tới. Nguy cơ chính của sự tăng trưởng kinh tế toàn cầu là những nhà hoạch định chính sách không nhận thấy sự khác biệt và việc giá cả hàng hóa tăng cao sẽ dẫn tới phong trào thắt chặt tiền tệ”, Alfredo Coutino, Giám đốc điều hành Moody's Analytics nhận định.

Còn báo cáo của Credit Suisse cho rằng: “Lạm phát tại châu Á là một trong số những yếu tố nhạy cảm nhất và có thể gây ra một cú sốc giá lương thực trên thế giới, ảnh hưởng đến đời sống nhiều người dân, dù các nước có trợ cấp và biện pháp kiểm soát giá lương thực đi nữa”.

Thảm họa động đất và sóng thần gần đây đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới nền kinh tế Nhật Bản và tình trạng căng thẳng tại khu vực Trung Đông cũng làm gia tăng áp lực lên giá cả hàng hóa thế giới, tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế thế giới, ông Tharman Shanmugaratnam, Bộ trưởng Tài chính Singapore bình luận.

Từ khóa bài viết: lạm phát, Châu Á, kinh tế toàn cầu

10/02 TTCK thế giới chứng kiến vụ thâu tóm lịch sử

Thứ Năm, 10-02-2011 - 10:46 SA Theo cafef

Công ty quản lý sàn chứng khoán Deutsche Boerse AG đang đẩy mạnh các cuộc đối thoại để mua lại NYSE Euronext để tạo ra công ty điều hành sàn chứng khoán lớn nhất thế giới.

Công ty quản lý sàn chứng khoán Deutsche Boerse AG đang đẩy mạnh các cuộc đối thoại để mua lại NYSE Euronext trong thỏa thuận để tạo ra công ty điều hành sàn chứng khoán lớn nhất thế giới.

Nếu vụ thâu tóm này thành công, thế giới sẽ có công ty quản lý sàn chứng khoán với tổng giá trị thị trường của nhóm các công ty niêm yết lên tới 15 nghìn tỷ USD tương đương 28% tổng giá trị vốn hóa thị trường của TTCK toàn thế giới.

Trong khi đó London Stock Exchange cũng đang thể hiện mạnh mẽ tham vọng thâu tóm công ty Canada’s TMX Group hiện đang quản lý sàn chứng khoán tại Toronto – Canada.

Ông Duncan Niederauer, giám đốc điều hành của NYSE Euronext hiện nay, sẽ tiếp tục đảm nhiệm vị trí này.

Ông Reto Francioni, giám đốc điều hành sàn Deutsche Boerse, sẽ chở thành chủ tịch công ty mới.

Deutsche Boerse sở hữu khoảng 59 đén 60% cổ phần của công ty sau khi sáp nhập.

Thương vụ hợp tác giữa Deutsche Boerse AG và NYSE Euronext, diễn ra sau một thập kỷ dài các công ty quản lý sàn chứng khoán trên thế giới đẩy mạnh sáp nhập, sẽ thống nhất sàn giao dịch chứng khoán và phái sinh từ Mỹ và Đức cho đến Pháp, Hà Lan và Bồ Đào Nha.

Từ năm 2000 đến nay, tổng giá trị các vụ thâu tóm trên các sàn của thế giới đạt ít nhát 95,8 tỷ USD trong đó bao gồm vụ tập đoàn NYSE mua Euronext NV; Nasdaq thâu tóm OMX AB.

Sau thông tin về khả năng vụ thâu tóm trên, cổ phiếu NYSE Euronext tăng 14% lên 38,10USD/cổ phiếu tại thị trường New York. Trong khi đó cổ phiếu của Deutsche Boerse tăng 1,7% lên 58,44 euro/cổ phiếu, mức cao nhất từ tháng 1/2010.

Tổng giá trị thị trường của 2 công ty sau khi sáp nhập đạt 25,6 tỷ USD, cao hơn công ty Hong Kong Exchanges & Clearing hiện đang giữ vị trí công ty quản lý sàn chứng khoán có giá trị vốn hóa thị trường lớn nhất thế giới.

Từ khóa bài viết: sàn chứng khoán, giao dịch, thị trường, cổ phiếu

15/02 Yahoo quyết định “bắt tay” cùng Facebook

Thứ Ba, 15-02-2011 - 10:56 SA Theo tamnhin

Do sự phát triển chưa bùng nổ của Facebook trong thời gian qua, các nhà điều hành của Yahoo lo ngại về nguy cơ mất thị phần quảng cáo trực tuyến. Nhà tiên phong về dịch vụ internet lại áp dụng câu thần chú cũ: “Không đánh được thì bắt tay”.


CEO Carol Bartz đang cố gắng để lấy nhiều băng thông cho Yahoo thông qua mối quan hệ gần đây giữa Yahoo - Facebook

Sau nhiều năm đấu tranh để phát triển các dịch vụ nhằm cạnh tranh với các mạng xã hội, vài tháng gần đây Yahoo đã cài đặt các công cụ như “Like” (yêu thích) , “Share” (chia sẽ) trên website tin tức và thể thao nhắm mục đích giúp bạn đọc của mình có thể chia sẽ bài viết trên tài khoản của Facebook.

Cũng giống như các nhà cung cấp nội dung khác, Yahoo đang tìm cách tận dụng số người sử dụng Facebook ngày càng phát triển nhằm tăng lượng truy cập vào các dịch vụ của mình từ các tin tức của Yahoo được chia sẽ trên Facebook. Phương pháp chia sẽ này sẽ đảm bảo nội dung liên kết của Yahoo sẽ xuất hiện trong tìm kiếm của Facebook.

Yahoo cũng đang thực hiện tương tự đối với Twitter – công ty cung cấp dịch vụ nhắn tin và Zynga Game Network – công ty chuyên cung cấp game cho các mạng xã hội.

Yahoo hi vọng sẽ xử lý được vấn đề lớn nhất số cứ mỗi tháng có 10% lượng người dùng chuyển sang trang khác trong vòng 1 năm qua. Và tác nhân lớn nhất không ai khác chính là Facebook.

Một cựu phó chủ tịch cao cấp của Yahoo ở Bắc Mỹ ông Karrnstedt cho rằng “trở thành một phần của chính đối phương là một cách hay”.

Và ông cũng cho rằng điều này sẽ ngăn chặn được lượng người chuyển sang Facebook khi đang đọc tin tức ở Yahoo.

Tuy nhiên Dan Rose phó chủ tịch marketing của Facebook lại cho rằng việc trở thành bạn bè là không đúng, đó chỉ là bám vào đối phương thôi.

Mới đây giám đốc điều hành Yahoo Carol Bartz đã gọi Facebook chính là đối thủ cạnh tranh lớn nhất của Yahoo. Điều này hoàn toàn có căn cứ vì theo số liệu của eMarketer cho biết trong khi thị trường quảng cáo hiển thị ở Mỹ năm 2010, Yahoo vẫn đứng số 1 với 16,2% giảm 0,3% so với năm 2009 còn Facebook thì ngược lại tăng lên 13,6% (7,3% năm 2009)

Từ khóa bài viết: Facebook, yahoo, dịch vụ internet, quảng cáo trực tuyến

09/10 Chuyển hoá nguồn nhân lực

Thứ Bảy, 9-10-2010 - 05:33 CH theo thaihabooks

Giới thiệu sách: Chuyển hoá nguồn nhân lực trình bày những điều cần thiết để đưa vấn đề nguồn nhân lực (HR) từ cuối quá trình kinh doanh về đúng vị trí của nó, là khâu chiến lược hàng đầu trong việc gắn quản lý tài năng với nhu cầu của tổ chức.


Cuốn sách đưa ra thông tin chi tiết về những xu hướng chủ yếu thúc đẩy mạnh nhu cầu tái thiết vai trò của HR trong các tổ chức ngày nay, đồng thời làm rõ khả năng của các chuyên gia HR trong việc thúc đẩy sự thay đổi của tổ chức. Nguồn nhân lực có thể đóng vai trò then chốt để giải quyết các vấn đề trong kinh doanh, hoạt động của tổ chức và một nhiệm vụ lãnh đạo mới, đặc biệt là khi tổ chức phải đối mặt với những thách thức của xu hướng thuê ngoài.

Trích đoạn sách hay:

"Xem xét các xu hướng - đặc biệt là các xu hướng về lực lượng lao động và HR - là một hoạt động luôn mang tính phổ biến. Suy cho cùng, những xu hướng tác động đến HR cũng tác động sâu sắc đến các tổ chức. Chúng không giống nhau trên phạm vi toàn quốc; chúng cũng không giống nhau trên phạm vi toàn cầu. Theo Dự báo Công sở 2006-2007 của Hiệp hội Quản lý Nguồn nhân lực thì 10 xu hướng HR hàng đầu là:

1. Chi phí chăm sóc y tế tăng

2. Sử dụng dịch vụ ở nước ngoài nhiều hơn

3. Mối đe doạ của chi phí y tế/chăm sóc sức khoẻ đối với khả năng cạnh tranh của Mỹ

4. Đòi hỏi lớn hơn về sự cân bằng công việc - cuộc sống

5. Việc nghỉ hưu của số lượng lớn những người thuộc Thế hệ Bùng nổ dân số

6. Thái độ đối với sự già đi và nghỉ hưu khi những người thuộc thế hệ bùng nổ dân số đến tuổi nghỉ hưu

7. Sự gia tăng số cá nhân và gia đình không có bảo hiểm y tế

8. Sự gia tăng tình trạng đánh cắp thông tin cá nhân

9. Căng thẳng công việc khi các nhà sử dụng lao động tìm cách nâng cao năng suất với số nhân viên ít hơn

10. Sự lợi dụng công nghệ để tấn công hoặc gây thảm hoạ

Những xu hướng này có thể được coi là các xu hướng vĩ mô với ý nghĩa rằng chúng có tác động đối với nhiều tổ chức và bộ phận khác nhau trong các thị trường toàn cầu. Trong HR, các xu hướng vi mô có thể có tác động đối với những lĩnh vực chức năng HR cụ thể và những tổ chức, bộ phận hoặc ngành nghề cụ thể. Để tìm hiểu những xu hướng vi mô này, hãy xem các nghiên cứu cụ thể được tiến hành về các chức năng HR, tổ chức, ngành nghề hoặc các lĩnh vực chức năng như kế toán, hệ thống thông tin quản lý, sản xuất/hoạt động hoặc tiếp thị.

Những xu hướng vĩ mô không có cùng một ý nghĩa trong tất cả các bối cảnh. Thực tế là, ý nghĩa của mỗi xu hướng có thể khác nhau tuỳ theo quốc gia, ngành nghề, tổ chức hoặc thậm chí là lĩnh vực chức năng trong một tổ chức. Nhưng việc mô tả những ý nghĩa tổng quát của chúng là cần thiết. Những xu hướng này hình thành từ những nguyên nhân phức tạp và hầu như không có xu hướng nào về lực lượng lao động lại chỉ có một nguyên nhân gốc duy nhất. Thế giới này quá phức tạp để điều đó có thể xảy ra. Thực tế là hầu hết các xu hướng có nhiều động lực và nguyên nhân gốc. Và trong nhiều trường hợp, các nguyên nhân của một xu hướng ảnh hưởng đến - thậm chí gây ra - các xu hướng khác."

Về tác giả: TS. William J. Rothwell là chuyên gia cao cấp về Nguồn nhân lực, Chủ tịch Công ty Rothwell & Associates, Giáo sư đào tạo và phát triển lực lượng lao động tại Đại học bang Pennsylvania.

TS. Robert K. Prescott là chuyên gia cao cấp về Nguồn nhân lực, nhà nghiên cứu, nhà giáo dục, nhà tư vấn và là Phó giáo sư ngành Quản lý nguồn nhân lực tại Khoa Kinh tế Sau đại học Crummer, Đại học Rollins.

Maria W. Taylor là Giám đốc giải pháp học tập của Công ty Dịch vụ Chuyên nghiệp Raytheon - một công ty hàng đầu trên thế giới về dịch vụ học tập và thuê ngoài.

Thông tin về cuốn sách:

Tên sách: Chuyển hoá nguồn nhân lực
Tác giả: William J. Rothwell, Robert K. Prescott và Maria W. Taylor
Giá: 75.000 (vnđ)
Số trang: 286
Nhà xuất bản: Kinh tế quốc dân
Khổ: 15.5 x 24 (cm)
Dạng bìa: Bìa mềm

Từ khóa bài viết: chuyển hóa, nguồn nhân lục, kinh doanh, vai trò, tổ chức, chuyên gia HR